- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Hùng T - Trương Lê C"
- Tòa quyết gì? * Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lê Hùng T về mặt hình thức.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1123/2018/HNGĐ-PT Ngày: 28 - 11 - 2018 V/v tranh chấp về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Lê Thiên Hương
Ông Nguyễn Văn Hậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lê Ninh – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Phạm Phương Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 103/2018/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 09 năm 2018 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 484/2018/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5278/2018/QĐ-PT ngày 07 tháng 11 năm 2018, và giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Hùng T, sinh năm 1975 (Vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt)
Địa chỉ: Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị Thúy H – Văn phòng Luật sư V, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Trương Lê C, sinh năm 1985 (Vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt) Địa chỉ: Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Ông Lê Hùng T – nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau: Nguyên đơn là ông Lê Hùng T trình bày: Năm 2011, ông Lê Hùng T và bà Trương Lê C kết hôn và sinh được hai con chung là trẻ Lê Gia H (nữ) sinh ngày 25/03/2012 và trẻ Lê Minh P (nữ) sinh ngày 11/11/2015. Năm 2016, ông bà ly hôn theo Bản án số 892/2016/HNPT ngày 10/08/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.Theo bản án quyết định thì bà C là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, bà C không yêu cầu Ông T cấp dưỡng nuôi con. Nay, ông yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, giao con chung là trẻ Lê Gia H cho ông trực tiếp nuôi dưỡng vì: bà C và gia đình bà ngăn cản, không tạo điều kiện cho ông thực hiện quyền và nghĩa vụ của một người làm cha là được chăm sóc, thăm nom, nuôi dưỡng các con chung, muốn gặp con ông đành phải tới trường học của trẻ H để thăm và vui chơi với con vào giờ nghỉ trưa. Hoàn cảnh và môi trường sống của trẻ H ở với bà C không được đảm bảo: phòng ngủ của ba mẹ con không được vệ sinh sạch sẽ, đồ đạc bừa bộn do bà C thường xuyên bận, không có thời gian dọn dẹp căn phòng nên gây nên ghẻ ngứa, trầy sước trên cơ thể của con…; Trẻ H được bà C giao cho mẹ và cha dượng mình đưa, đón là chính; ngoài giờ học ở trường trẻ H không được tham gia vui chơi, sinh hoạt ngoại khóa. Ông là người trực tiếp chăm sóc cho trẻ H từ nhỏ nên ông hiểu con là đứa trẻ nhạy cảm, nhút nhát, yếu đuối và phát triển về ngôn ngữ có phần chậm hơn các bạn cùng trang lứa, vì thế cần được quan tâm chăm sóc, vỗ về. Ông luôn cảm thấy rất lo lắng, bất an khi không thể theo sát bên con, nguyện vọng của ông muốn là người trực tiếp đưa, đón, chăm sóc con mỗi ngày để con phát triển toàn diện và gắn kết tình cảm cha con, đồng thời cùng san sẻ bớt trách nhiệm, gánh nặng nuôi con với bà C. Ông làm nghề biên dịch và thuyết minh phim, có chỗ ở và thu nhập ổn định, thời gian làm việc do ông chủ động nên ông có thời gian chăm sóc con, có đủ điều kiện để nuôi con tốt. Bị đơn bà Trương Lê C trình bày: Sau khi ly hôn bà và hai con cùng chung sống với mẹ, cha dượng tại nhà của cha mẹ tại Quận M. Bản thân bà luôn cố gắng chu toàn trách nhiệm với hai con và được sự trợ giúp của ông bà ngoại, gia đình bà luôn chú trọng việc phát triển cho hai con cả về mặt thể chất và tinh thần, hai con do bà nuôi được chăm sóc tốt về mọi mặt, được học các lớp kỹ năng sống, phát huy mặt mạnh của con, đi học lớp ngoại khóa để cải thiện tính nhút nhát, đi du lịch trong, ngoài nước…; Căn nhà tại đường E, quận Y nơi Ông T ở rất chật chội, nhà đã xuống cấp mà không được sửa chữa, lại ở chung với các anh chị em khác của Ông T, phía trước kinh doanh sơn; Ông T làm việc tự do, không có giờ giấc cố định, lại nghiện thuốc lá (hút 01 gói/ngày); với môi trường sống này không đảm bảo tốt cho sự phát triển tinh thần, thể chất của con .
Hiện nay, bà làm quản lý chuỗi cửa hàng cho Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Vascara, với thu nhập, chỗ ở ổn định bà có đủ khả năng và thời gian để chăm sóc hai con chung, do đó, bà không đồng ý giao trẻ H cho Ông T nuôi dưỡng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ông T cho rằng ông xin thay đổi nuôi con là xuất phát từ tình yêu thương, trách nhiệm của người cha muốn được trực tiếp quan tâm và chăm sóc con một cách tốt nhất; Ông T có đủ điều kiện vật chất, thời gian chủ động, thu nhập và công việc ổn định, mong muốn thay đổi môi trường sống tốt hơn, tương lai tốt hơn cho trẻ H nên ông Lê Hùng T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ H; đề nghị tòa án xem xét chấp nhận.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 484/2018/HNGĐ-ST ngày 09/08/2018 của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Hùng T về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Tiếp tục giao con chung là trẻ Lê Gia H, sinh ngày 25/3/2012 cho bà Trương Lê C trực tiếp nuôi dưỡng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ với con sau khi ly hôn, án phí, quyền kháng cáo, quy định về việc thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 23/8/2018, ông Lê Hùng T có đơn kháng cáo đề ngày 22/8/2018, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người kháng cáo là ông Lê Hùng T, đồng thời là nguyên đơn trong vụ án và bị đơn là bà Trương Lê C đã có bản khai trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến như tại tòa sơ thẩm, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Tuy nhiên sau khi được tòa án động viên hòa giải, Ông T và bà C đã cùng nhau tự thỏa thuận về việc giải quyết toàn bộ vụ án được ghi nhận tại biên bản làm việc ngày 22/11/2018, nay Ông T, bà C, luật sư bảo vệ quyền lợi cho Ông T yêu cầu tòa án công nhận thỏa thuận của hai bên đồng thời yêu cầu được vắng mặt, không tham gia phiên tòa xét xử; với nội dung thỏa thuận như sau:
- Tiếp tục giao hai con chung là trẻ Lê Gia H (nữ), sinh ngày 25/3/2012 và trẻ Lê Minh P (nữ), sinh ngày 11/11/2015 cho bà Trương Lê C trực tiếp nuôi dưỡng.
- Ông Lê Hùng T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung. Lịch trình thăm nom con cụ thể hai bên thỏa thuận thực hiện theo bản thỏa thuận riêng được lập cùng ngày 22/11/2018 tại tòa án. Ngoài ra, Ông T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con như sau: 1/Tiền học phí, tiền ăn bán trú của hai con Lê Gia H và Lê Minh P theo thông báo thu tiền hàng tháng của trường công lập: Ông T trực tiếp thanh toán cho nhà trường, bắt đầu thực hiện từ tháng 01/2019 đến khi hai con lần lượt đủ 18 tuổi. 2/ Tiền quà bánh cho con: Ông T chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản của bà Trương Lê C 2.000.000 đồng/tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 01/2019 đến khi hai con lần lượt đủ 18 tuổi.
- Án phí các đương sự chịu theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu: Những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; về hình thức đơn kháng cáo của Ông T hợp lệ; về nội dung kháng cáo: Ông T kháng cáo đề nghị được nuôi dưỡng trẻ Lê Gia H (nữ), sinh ngày 25/3/2012, tuy nhiên, tại Biên bản làm việc ngày 22/11/2018, Ông T và bà C đã thống nhất được việc giải quyết toàn bộ vụ án. Sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo của Ông T, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của Ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Lê Hùng T làm trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng an phí phúc thẩm, hợp lệ về hình thức, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. [2] Về nội dung kháng cáo: Ông Lê Hùng T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Gia H; Ông T không rút đơn kháng cáo, không rút đơn kiện, bà C không đồng ý thay đổi người nuôi con như Ông T yêu cầu. Tuy nhiên, ngày 22/11/2018, các đương sự đã thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án gồm người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung sau khi ly hôn, việc thăm nom, cấp dưỡng nuôi con và án phí phải chịu như đã trình bày trên.
Hội đồng xét xử nhận thấy: theo nội dung khởi kiện thì nguyên đơn là Ông T chỉ yêu cầu tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với con chung là trẻ Lê Gia H, nhưng khi hai bên thỏa thuận, hòa giải thì Ông T còn tự nguyện cấp dưỡng nuôi con; xét thấy, việc Ông T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con thể hiện trách nhiệm, tình cảm của người cha với các con và có lợi cho các con chung, về phía bà C cũng thống nhất, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội được Hội đồng xét xử chấp nhận; do đó cần sửa một phần bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.
Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con ông Lê Hùng T phải chịu, theo quy định pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm nên người kháng cáo là Ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, Điều 300, Điều 306, Khoản 2 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008, đã sửa đổi bổ sung năm 2014,
Tuyên xử:
* Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lê Hùng T về mặt hình thức.
* Về nội dung: Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Lê Hùng T. Sửa một phần bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 484/2018/HNGĐ-ST ngày 09/08/2018 của Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau: 1. Tiếp tục giao hai con chung là trẻ Lê Gia H (nữ), sinh ngày 25/3/2012 và trẻ Lê Minh P (nữ), sinh ngày 11/11/2015 cho mẹ là bà Trương Lê C trực tiếp nuôi dưỡng. 2. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Hùng T cấp dưỡng nuôi con như sau:
- Tiền học phí, tiền ăn bán trú của hai con Lê Gia H và Lê Minh P theo thông báo thu tiền hàng tháng của trường công lập: Ông T trực tiếp thanh toán cho nhà trường, bắt đầu thực hiện từ tháng 01/2019 đến khi hai con lần lượt đủ 18 tuổi.
- Tiền quà bánh: Ông T chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản của bà Trương Lê C 2.000.000 đồng/tháng (Tài khoản số: 19026812544012, Ngân hàng Techcombank - Chi nhánh Hồ Chí Minh, Chủ tài khoản: Trương Lê C), bắt đầu thực hiện từ tháng 01/2019 đến khi hai con lần lượt đủ 18 tuổi. 3. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. 4. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là 300.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng ông Lê Hùng T phải chịu, nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã tạm nộp theo biên lai thu tiền số 0001997 ngày 06/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T còn phải nộp thêm 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng ông Lê Hùng T phải chịu. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng Ông T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0016221 ngày 23/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Chi cục THADS Quận M; - TAND Quận M; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HS, VT (T/17). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Phương |