vanban.org

Bản án 112/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2019 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2019/HSST
Ngày: 24 -7- 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thành Viên

2. Bà Võ Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 112/2019/HSST ngày 18 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, giới tính: Nam, sinh năm 1993 tại tỉnh T; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp : không; con ông Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1963) và bà Trần Thị T (sinh năm 1965) ; Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên Nguyễn Thị T (đã ly hôn) có 01 con sinh năm 2017; Tiền án : Không ; Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 14/3/2019 (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 08.3.2019, Nguyễn Văn C sử dụng điện thoại di động số 0937.695.768 gọi vào điện thoại di động số 0334632964 gặp một thanh niên tên Phú (không rõ lai lịch) hỏi mua ma túy tổng hợp với số tiền 2.600.000 đồng với mục đích sử dụng thì Phú đồng ý bán. C gặp Phú tại trước khu vực quán karaokê K – Max đường Nguyễn Văn Dung, phường 6, quận Gò Vấp và đưa cho Phú số tiền 2.600.000 đồng rồi nhận của Phú 01 gói nylon bên trong có 11 viên nén hình tròn màu xanh và 02 gói nylon chứa ma túy tổng hợp. C sử dụng hết 01 viên nén hình tròn màu xanh, rồi C bỏ tất cả số ma túy còn lại vào bao thuốc lá hiệu 555 cất giấu trong người để dành sử dụng. Đến khoảng 10 giờ ngày 11.3.2019 khi C đang tàng trữ số ma túy trên thì bị Đội CSĐTTP về Ma túy Công an quận Gò Vấp bắt quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn C và hình dấu Công an phường 6, quận Gò Vấp, bên trong có: 10 viên nén hình tròn màu xanh khắc ký hiệu Vương miện, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,9818g, loại MDMA; 02 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0759g, loại Ketamine.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu 555; Tiền NHVN: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Đối với thanh niên tên Phú đã bán ma túy cho C, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 75/Ctr-VKS, ngày 01/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo

- Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy thu giữ và 01 vỏ bao thuốc lá hiệu 555

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone

- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.

Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 712/KLGĐ-H ngày 15/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luân: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn C và hình dấu Công an phường 6, quận Gò Vấp, bên trong có: 10 viên nén hình tròn màu xanh khắc ký hiệu Vương miện, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,9818g, loại MDMA; 02 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0759g, loại Ketamine.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ ma túy là chất độc hại gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ảnh hưởng đến sự phát triển cộng đồng xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia gây mất trật tự trị an còn ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng ma túy tương đối lớn là thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm C.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với tên Phú bán ma túy cho Nguyễn Văn C, do chưa xác định được nhân thân lai lịch khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn C và hình dấu Công an phường 6, quận Gò Vấp, là ma túy tổng hợp Nhà nước cấm lưu hành; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu 555 không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone là công cụ bị cáo liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước

- Đối với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) là tư vật của bị cáo không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2019

Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn C và hình dấu Công an phường 6, quận Gò Vấp bên trong có 10 (mười) viên nén hình tròn màu xanh ký khắc Vương Miện và 02 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu 555.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone số sim 0937695768.

- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng)

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 85/PNK ngày 16/4/2019 của Công an quận Gò Vấp)

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ