vanban.org

Bản án 112/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 02/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến K 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/3/2026. [3] Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 743/KL-KTHS bên trong có 0,164 g Heroine; 01 mảnh giấy bạc gói ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu gửi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến K - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2026/HS-ST
Ngày: 02 - 7 - 2026.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƢNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bá Thiệp.

Bà Vũ Thị Đông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Đăng Việt - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Tiến Luật - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2026, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2026/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến K (tên gọi khác: Không), sinh năm 1974. Nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Tiến T (đã chết); con bà Nguyễn Thị T1 (đã chết). Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Nguyễn Thị L và 01 con sinh năm 1997.

Tiền án: Không. Tiền sự: Quyết định số 01/QĐ-TA ngày 14/7/2022, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với K, thời hạn 01 năm 03 tháng (chấp hành xong ngày 15/8/2024).

Nhân thân: Ngày 09/3/2011, bị Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên) xử phạt hành chính về hành vi chứa bạc.

Bản án số 02/2016/HSST ngày 14/01/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên) xử phạt 03 năm 06 tháng về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chấp hành xong ngày 08/8/2018).

Ngày 22/01/2013, bị chủ tịch UBND huyện Q áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 01 năm, chấp hành xong ngày 23/01/2014 (Theo Quyết định số 93/QĐ-UBND).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2026 đến ngày 26/3/2026 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Ông Trần Văn P, sinh năm 1979. Trú tại: Số H đường L, phường P, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 20/3/2026, K một mình bắt xe ôm của một người không biết tên, tuổi, địa chỉ từ nhà đi sang khu vực Hưng Yên (cũ) để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến phường P, tỉnh Hưng Yên thì xuống xe, trả tiền xe ôm rồi đi bộ dọc đường L, rẽ vào ngõ C đường L thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, mặc quần áo đen, đeo khẩu trang. Do là người nghiện nên K biết người đó cũng nghiện ma túy, K lại gần hỏi "anh có biết chỗ nào bán hàng trắng không" thì người này nói "lấy bao nhiêu", K nói "lấy một tép". Sau đó K đưa cho người đàn ông này số tiền 200.000đ thì người này đưa cho K 01 gói giấy bạc, bên trong chứa ma túy, loại Heroine rồi bỏ đi. K cầm gói giấy bạc chứa ma túy, loại Heroine trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra đầu ngõ để bắt xe ôm về thì bị tổ công tác Công an phường P tiến hành kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay phải của bị cáo có 01 gói giấy bạc, kiểm tra bên trong gói giấy bạc có chất màu trắng dạng cục và bột, bị cáo khai là ma túy. Cơ quan Công an lập biên bản bắt quả tang, thu giữ vật chứng và đưa bị cáo về trụ sở làm việc.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến K tại thôn Q, xã Q, tỉnh Hưng Yên, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số 743 ngày 23/3/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1 là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,191g.

Quá trình điều tra, Nguyễn Tiến K thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKS-KV1 ngày 15/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Tiến K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo không thắc mắc nội dung bản cáo trạng, thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên: Giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 (Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025). Tuyên phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 743/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh H, bên trong có 0,176g Heroine; 01 mảnh giấy bạc gói ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu gửi giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 20/3/2026, tại ngõ C đường L, phường P, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Tiến K đã tàng trữ trái phép 0,191g Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo tàng trữ trái phép ma tuý có trọng lượng là 0,176g Heroine nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Tiến T được Nhà nước tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang và Huân chương chiến công. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Toà án kết án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi chứa bạc; 02 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tương xứng và buộc bị cáo phải cách ly đời sống xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 743/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh H, bên trong có 0,176g Heroine là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. 01 mảnh giấy bạc gói ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu gửi giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác: Đối với người đi xe ôm và người đàn ông bán ma túy cho bị cáo: Quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh H chưa đủ căn cứ để xác minh, làm rõ là phù hợp.

Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, áp dụng điều luật, mức hình phạt, xử lý vật chứng trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến K 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/3/2026.

[3] Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 743/KL-KTHS bên trong có 0,164 g Heroine; 01 mảnh giấy bạc gói ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu gửi giám định.

Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Công an tỉnh H, đặc điểm vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 23/QĐ-VKSHY-KV ngày 15 tháng 6 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên.

[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Tiến K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ