- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thúy H-Trương Vũ K"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy H đối với ông Trương Vũ K. Cho bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với ông Trương Vũ K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2026/HNGĐ-ST Ngày: 11-6-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Hồng Chi
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Hoài Tân
2. Ông Liêu Tài Ngoánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Tào Diệu Như, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 217/2026/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2026 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2026/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2026; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh ngày 10/04/1991. Căn cước số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 02/10/2025. Địa chỉ: Ấp N, xã V, tỉnh Cà Mau. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Trương Vũ K, sinh ngày 18/5/1992. Căn cước số xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Ấp A, xã V, tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/3/2026, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 28/4/2026, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H trình bày: Vào tháng 3 năm 2018, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Đến tháng 7 năm 2018, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Cà Mau) và đã được Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Cà Mau) cấp giấy chứng nhận kết hôn, ngày 05 tháng 7 năm 2018.
Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K có tất cả 01 (một) người con chung là cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019. Hiện nay, cháu Trương Nguyễn Tùng B đang sống chung với bà Nguyễn Thị Thúy H tại địa chỉ: Ấp N, xã V, tỉnh Cà Mau.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thúy H xác định bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K chung sống không tạo lập được tài sản chung.
Về nợ chung: Trong thời gian chung sống, bà Nguyễn Thị Thúy H xác định bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K không vay, mượn tiền, tài sản của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức tín dụng hoặc Ngân hàng nào nên không có nợ chung.
Trong thời gian chung sống, do tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, ông Trương Vũ K có mối quan hệ không lành mạnh với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc, lo lắng cho bà Nguyễn Thị Thúy H và cháu Trương Nguyễn Tùng B dẫn đến giữa bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau nên bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau từ tháng 3 năm 2025 đến nay. Bà Nguyễn Thị Thúy H đang sống cùng với cháu Trương Nguyễn Tùng B ở tại địa chỉ: Ấp N, xã V, tỉnh Cà Mau cho đến nay; còn ông Trương Vũ K đang sống ở nhà cha mẹ của ông Trương Vũ K tại địa chỉ: Ấp A, xã V, tỉnh Cà Mau cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K có gặp gỡ trực tiếp với nhau và cũng có liên lạc với nhau bằng điện thoại để giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.
Nay bà Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu được ly hôn với ông Trương Vũ K; không yêu cầu được đoàn tụ. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019 và không yêu cầu ông Trương Vũ K cấp dưỡng cháu Trương Nguyễn Tùng B. Về tài sản chung và nợ chung, bà Nguyễn Thị Thúy H xác định bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K chung sống không có tài sản chung và nợ chung nên bà Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với ý kiến trình bày của bị đơn ông Trương Vũ K: Tòa án nhân dân khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập ông Trương Vũ K đến Tòa án, nhưng ông Trương Vũ K không thực hiện việc gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy H cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án cho Tòa án và cũng không đến Tòa án làm việc nên không thể ghi nhận ý kiến, yêu cầu của ông Trương Vũ K đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy H. Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bà Nguyễn Thị Thúy H cung cấp và do Tòa án thu thập được để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình ; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2026 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy H đối với ông Trương Vũ K, cho bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với ông Trương Vũ K. Về con chung, Giao cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019 cho bà Nguyễn Thị Thúy H tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, bà Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu ông Trương Vũ K cấp dưỡng nuôi cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019 nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, bà Nguyễn Thị Thúy H xác định không có và không yêu cầu giải quyết, ông Trương Vũ K cũng không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu ly hôn với ông Trương Vũ K và hiện nay ông Trương Vũ K cư trú tại ấp A, xã V, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Trương Vũ K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Trương Vũ K vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K tự nguyện chung sống với nhau vào tháng 3 năm 2018. Đến tháng 7 năm 2018, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K mới tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Cà Mau) và đã được Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Cà Mau) cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 05 tháng 07 năm 2018 nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu được ly hôn với ông Trương Vũ K với lý do trong thời gian chung sống, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, ông Trương Vũ K có mối quan hệ không lành mạnh với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc, lo lắng cho bà Nguyễn Thị Thúy H và cháu Trương Nguyễn Tùng B dẫn đến giữa bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau nên bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau từ tháng 3 năm 2025 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K không có gặp gỡ trực tiếp với nhau và cũng không có liên lạc với nhau bằng điện thoại nên không có biện pháp gì để giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại Biên bản xác minh ngày 01 tháng 6 năm 2026, Trưởng ấp A, xã V, tỉnh Cà Mau xác định bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K đã sống ly thân, do vợ chồng bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K mâu thuẫn với nhau. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K thực tế đã phát sinh mâu thuẫn, không thể giải quyết, cuộc sống chung giữa bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K thực tế đã không còn và không thể duy trì. Điều này cho thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K đã không còn có sự quan tâm, chăm sóc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy H đối với ông Trương Vũ K, cho bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với ông Trương Vũ K.
Bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K chung sống có tất cả 01 (một) người con chung là cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019; hiện nay cháu Trương Nguyễn Tùng B đang sống chung với bà Nguyễn Thị Thúy H. Xét thấy, cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019 đã có cuộc sống ổn định, gắn bó với bà Nguyễn Thị Thúy H kể từ thời điểm bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K sống ly thân cho đến nay; cháu Trương Nguyễn Tùng B có nguyện vọng được sống chung với bà Nguyễn Thị Thúy H. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định của cháu Trương Nguyễn Tùng B, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thúy H; giao cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019 cho bà Nguyễn Thị Thúy H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà Nguyễn Thị Thúy H đang trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Nguyễn Tùng B nên bà Nguyễn Thị Thúy H được tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ông Trương Vũ K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được quyền cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu ông Trương Vũ K cấp dưỡng nuôi cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019 nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị N xác định bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K chung sống không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết. Ông Trương Vũ K không thể hiện ý kiến có tranh chấp và yêu cầu giải quyết về vấn đề tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thúy H xác định bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Trương Vũ K chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Trương Vũ K không thể hiện ý kiến có tranh chấp và yêu cầu giải quyết về nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, bà Nguyễn Thị Thúy H phải nộp 300.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Thúy H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003946 ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau nên được chuyển thu án phí.
Các quan điểm đề xuất việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau tại phiên tòa, như đã phân tích, là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội và điểm 1.1 phần II mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016):
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy H đối với ông Trương Vũ K. Cho bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với ông Trương Vũ K.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thúy H đối với ông Trương Vũ K về việc tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
2.1. Giao cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019 cho bà Nguyễn Thị Thúy H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Bà Nguyễn Thị Thúy H đang trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019 nên bà Nguyễn Thị Thúy H được tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019.
2.2. Ông Trương Vũ K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được quyền cản trở.
2.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thúy H không yêu cầu ông Trương Vũ K cấp dưỡng nuôi cháu Trương Nguyễn Tùng B, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2019 nên không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình, bà Nguyễn Thị Thúy H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Bà Nguyễn Thị Thúy H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003946 ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau nên được chuyển thu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 7-Cà Mau; - Phòng THADS khu vực 7-Cà Mau; - UBND xã Vĩnh Mỹ, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | Dương Hồng Chi |