vanban.org

Bản án 112/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị T được ly hôn với anh Ngô Quang L. 2. Về con chung: Giao con chung Ngô Hồ Tuấn K, sinh ngày 19/9/2015 cho chị Hồ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị T- Ngô Quang L"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị T.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 14-7-2026
V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Hà

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lợc và ông Chu Quang Cường

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hoàng Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 4 – Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 228/2026/TLST- HNGĐ, ngày 04 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 324/2026/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị T, sinh năm 1986. CCCD số xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: Thôn H Cầu G, xã Q, tỉnh Nghệ An; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Ngô Quang L, sinh năm 1987; CCCD số xxxxxxxxxxxx

Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã Q tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn B Q, xã Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/4/2026, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Hồ Thị T trình bày:

Chị và anh Ngô Quang L kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q ngày 10/01/2015 nay là UBND xã Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian ngắn đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp nhau, hay cãi nhau nên đã ly thân từ năm 2016. Sau khi ly thân anh L và chị T cũng không qua tâm, hỏi han nhau nữa. Sau đó anh L đi nước ngoài thì tình cảm vợ chồng càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh Ngô Quang L nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Quang L.

Về con chung, vợ chồng có 01 con chung là Ngô Hồ Tuấn K, sinh ngày 19/9/2015, hiện con chung đang ở với chị T nên ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa, anh Ngô Quang L vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần. Tòa án cũng đã gửi công văn cho Phòng Q1 – Công an tỉnh N và được biết hiện nay anh L xuất cảnh khỏi Việt Nam ngày 10/6/2016, chưa có thông tin về nước. Vì vậy, sau khi thụ lý, Tòa án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn để nghị gia đình anh Ngô Quang cung C thông tin, địa chỉ của anh L ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng anh L vẫn không có mặt, nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Cháu Ngô Hồ Tuấn K có nguyện vọng được ở với mẹ là Hồ Thị Thu

Kết quả xác minh tại bà Lê Thị H là mẹ đẻ anh Ngô Quang L cho biết: Chị T và anh L kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q cũ và đã sinh được 01 con chung là Ngô Hồ Tuấn K. Vợ chồng chung sống bình thường nhưng dạo gần đây thấy vợ chồng thông báo là có mâu thuẫn, nguyên nhân thấy anh L nói với bà H là do chị T chê anh L làm không ra tiền, nên không gọi điện hỏi thăm nhau nữa. Anh L đi lao động bên nước ngoài từ năm 2016 đến nay chưa về lần nào, nhưng anh L vẫn điện về hỏi thăm bà qua zalo, mesenger. Bà có hỏi địa chỉ của anh L ở bên nước ngoài nhưng anh L không nói. Chị T và anh L có 01 con chung tên Ngô Hồ Tuấn K, từ nhỏ cháu sống với mẹ. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và giao cháu K cho chị T nuôi dưỡng, nhưng chị T phải cho anh L và gia đình bên nội thăm gặp con.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Q: Chị T và anh L có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q nay là xã Q, đúng quy định. Theo hệ thống dữ liệu quốc gia cho thấy chị T và anh L có 01 con chung là Ngô Hồ Tuấn K, sinh ngày 19/9/2015. Anh L đi xuất khẩu lao động thì con chung đang ở với chị T. Chị T và anh L có mâu thuẫn như thế nào chính quyền địa phương không được biết. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng; nguyên đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành pháp luật theo pháp luật tố tụng dân sự và phát biểu về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án xử cho chị Hồ Thị T được ly hôn với anh Ngô Quang L; Về con chung: Giao con chung Ngô Hồ Tuấn K, sinh ngày 19/9/2015 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L vì chị T không yêu cầu; về tài sản không xem xét vì đương sự không yêu cầu; đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thẩm quyền: Chị Hồ Thị T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Ngô Quang L, đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Trước khi xuất cảnh anh L cư trú tại Thôn B Q, xã Q, tỉnh Nghệ An. Căn cứ quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập được, kết quả xác minh Phòng Xuất nhập cảnh – Công an tỉnh N; lời trình bày của bà Lê Thị Hồng M đẻ của anh Ngô Quang L thì có căn cứ xác định hiện nay anh L đang cư trú tại nước ngoài và vẫn liên lạc về với gia đình. Anh L đã biết được việc chị T làm đơn xin ly hôn với anh L tại Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Nghệ An nhưng chị T không cung cấp địa chỉ. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh L cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh cho Tòa án. Do đó, việc anh Ngô Quang L vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt: Anh L đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị T có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị T và anh Ngô Quang L có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q nay là xã Q, tỉnh Nghệ An ngày 10/01/2015. Vì vậy, hôn nhân giữa chị T và anh L là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.

Theo chị T nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do hai bên không hợp nhau, hay cãi nhau nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Anh L không có lời khai nhưng theo bà H mẹ anh L cho biết anh L và chị T cũng đã có mâu thuẫn, không quan tâm nhau, theo bà H thì anh L có nói do chị T chê anh không làm ra tiền. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh L đã biết nhưng không có ý kiến gì, điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hai bên sống ly thân đã lâu, nên cần xử cho chị Hồ Thị T được ly hôn anh Ngô Quang L là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình .

VÒ con chung: Chị Hồ Thị T và anh Ngô Quang L có 01 con chung là Ngô Hồ Tuấn K sinh ngày 19/9/2015. Từ khi anh L đi nước ngoài đến nay con chung đều ở với chị T, khỏe mạnh phát triển bình thường. Hơn nữa anh L hiện đang ở nước ngoài không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con được. Do đó cần giao các con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nêu Tòa án không xem xét giải quyết. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh L do chị T không yêu cầu.

Về tài sản: Chị Hồ Thị T và anh Ngô Quang L không yêu cầu giải quyết. Nếu các đương sự có yêu cầu thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 469, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội Đồng Thẩm phán; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị T.

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị T được ly hôn với anh Ngô Quang L.

2.2. Về con chung: Giao con chung Ngô Hồ Tuấn K, sinh ngày 19/9/2015 cho chị Hồ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Ngô Quang L có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm cản trở.

Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Về quan hệ tài sản: Chị Hồ Thị T và anh Ngô Quang L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ giải quyết khi đương sự có đơn yêu cầu bằng một vụ án dân sự khác.

3. Về án phí: Chị Hồ Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh N theo biên lai số 0003220 ngày 29/4/2026.

4. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị T có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh Ngô Quang L có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ