vanban.org

Bản án 112/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm Tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Trần Văn B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/11/2024. Xử lý vậy chứng:Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Bình - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm Tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————
Bản án số:112/2025/HS-ST
Ngày 28-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Lực;

2. Bà Ngô Thị Dịu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn B; sinh năm 1984, tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: số C đường P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm (không rõ); vợ là bà Nguyễn Thị Thùy D (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2013, có 4 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1990.

Tiền án: Ngày 14/02/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 11/2023/HS-ST ngày 14/02/2023. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 11/12/2023 tại Trại giam C; đã thi hành án phí vào ngày 25/8/2023; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 21/02/2003, bị Tòa án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 11/2003/HS-ST ngày 21/02/2003. Chấp hành xong hình phạt từ ngày 20/01/2004 tại Trại tạm giam Bố Lá, thi hành án phí vào ngày 21/7/2003.

- Ngày 23/12/2004, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản tại Bản án số 2150/2004/HS-ST ngày 23/12/2004. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/10/2009 tại Trại giam X và đã chấp hành xong ngày 10/10/2009. Thi hành xong án phí vào ngày 03/11/2005.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 12/11/2024, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Phạm Trung K, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người làm chứng

1. Nguyễn Trường M, vắng mặt.

2. Lê Xuân K1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/11/2024 B điều khiển xe mô tô biển số 61T9-4796 chở con trai là cháu Tuấn A1 đi từ phường T về hướng khu công nghiệp S, phường D, thành phố D tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến trước kho Toàn P, địa chỉ: đường số A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, thấy không có người trông coi, B đỗ xe mô tô ở phía trước cửa kho và nói cháu Tuấn A1 ngồi trên xe đợi. Sau đó, B đi bộ vào bên trong kho Toàn P thấy nhiều hàng hóa nhưng không lấy được. B đi đến phía sau kho thì nhìn thấy 01 máy hàn nhãn hiệu Jasic số loại CZ7-200 PRO, màu cam đen được sử dụng để thi công công trình của anh Phạm Trung K đặt trên nền sân không có người trông coi nên B đã xách máy hàn và quay trở lại nơi cháu Tuấn A1 đang đợi. Khi B đi được khoảng 50 mét đến giữa kho T thì bị anh Nguyễn Trường M phát hiện, truy hô B ném máy hàn lại rồi bỏ chạy ra cửa thì bị anh M đuổi theo bắt giữ và giao cho Công an phường D lập biên bản với hành vi phạm tội quả tang.

Kết luận định giá tài sản số: 209/KLĐG - HĐĐGTS ngày 19/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương kết luận: 01 Máy hàn nhãn hiệu Jasic, số loại CZ7-200 PRO màu cam đen (đã qua sử dụng) trị giá 800.000 (tám trăm nghìn) đồng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS-5C63, loại xe: hai bánh từ 50 – 175 cm³, màu sơn: đỏ đen;

- 01 biển số 61T9-4796;

- 01 máy hàn nhãn hiệu Jasic, số loại CZ7-200 PRO màu cam đen.

Tại Cáo trạng số 97/CT-VKSDA-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn B về Tội trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn B mức án từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 máy hàn nhãn hiệu Jasic, số loại CZ7-200 PRO màu cam đen là tài sản của anh Phạm Trung K, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố D trả lại cho anh K, anh K không yêu cầu gì thêm.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS-5C63, loại xe: hai bánh từ 50 – 175 cm³, màu sơn: đỏ đen; Số máy, số khung: bị mài phá, dung tích xi lanh 110 cm³ do bà Ngô Thị Vân A, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đứng tên chủ sở hữu. Kết quả xác minh, bà Vân A hiện không sinh sống ở địa phương; đang sinh sống và làm việc tại nước A. B khai đã mua xe mô tô trên từ một người khác (không rõ nhân thân) nhưng không làm thủ tục sang tên. Do chưa làm việc được với chủ sở hữu của xe mô tô nói trên nên cần giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh B quản lý, tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với 01 biển số 61T9-4796 là biển số của xe mô tô nhãn hiệu Sundi - beauty, số loại: 110S, loại xe: hai bánh từ 50 – 175 cm³, màu sơn: đỏ đen do bà Nguyễn Thị Thanh L1, sinh năm 1975, nơi cư trú: Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra, bà L1 cho biết đã bán lại xe mô tô trên cho một người khác (không rõ nhân thân) vào năm 2009 nhưng không làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã tiến hành đăng thông báo truy tìm chủ sở hữu của biển số xe biển số 61T9-4796 trên phương tiện thông tin đại chúng trong 03 số liên tiếp nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Xét thấy biển số 61T9-4796 đã hết giá trị sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với cháu Trần Tuấn A1, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2013, quá trình điều tra xác định việc B thực hiện hành vi phạm tội thì cháu Tuấn A1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương không xử lý.

- Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, không trình bày lời bào chữa cho hành vi phạm tội, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện vào lúc 11 giờ 30 phút, ngày 12/11/2024 tại kho T, địa chỉ: đường số A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau và phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định vào 11 giờ 30 phút ngày 12/11/2024, Trần Văn B đã cố ý tiếp cận thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy hàn nhãn hiệu Jasic, số loại CZ7-200 PRO màu cam đen của anh Phạm Trung K trị giá 800.000 đồng; bị cáo Trần Văn B đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tộicắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng số 97/CT-VKSDA-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Hình phạt chính: Xét bị cáo xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã có tiền án, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 máy hàn nhãn hiệu Jasic, số loại CZ7-200 PRO màu cam đen là tài sản của anh Phạm Trung K, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố D trả lại cho anh K là có căn cứ.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS-5C63, loại xe: hai bánh từ 50 – 175 cm³, màu sơn: đỏ đen; Số máy, số khung: bị mài phá, dung tích xi lanh 110 cm³ do bà Ngô Thị Vân A, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đứng tên chủ sở hữu. Kết quả xác minh, bà Vân A hiện đang sinh sống và làm việc tại nước A. Do chưa làm việc được với chủ sở hữu của xe mô tô nói trên nên giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh B quản lý, xác minh xử lý sau là phù hợp.

- Đối với 01 biển số 61T9-4796 là biển số của xe mô tô nhãn hiệu Sundi - beauty, số loại: 110S, loại xe: hai bánh từ 50 – 175 cm³, màu sơn: đỏ đen do bà Nguyễn Thị Thanh L1, sinh năm 1975, nơi cư trú: Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra, bà L1 xác định đã bán lại xe mô tô trên cho một người khác (không rõ nhân thân) vào năm 2009 nhưng không làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã tiến hành đăng thông báo truy tìm chủ sở hữu ở trên phương tiện thông tin đại chúng trong 03 số liên tiếp nhưng không có ai tới nhận. Xét thấy, biển số 61T9-4796 đã hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với cháu Trần Tuấn A1, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2013 đi theo cha là Trần Văn B, quá trình điều tra xác định việc B thực hiện hành vi phạm tội cháu Tuấn A1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương không xử lý là có căn cứ.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Các Điều 331, 333, 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm Tội trộm cắp tài sản.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/11/2024.

2. Xử lý vậy chứng:Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 biển số 61T9-4796 không còn giá trị sử dụng

- Giao Công an tỉnh B 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại: SIRIUS-5C63, loại xe: hai bánh từ 50 – 175 cm³, màu sơn: đỏ đen; Số máy, số khung: bị mài phá, dung tích xi lanh 110 cm³ để tiếp tục xác minh, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 03 năm 2025.)

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ