vanban.org

Bản án 112/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S:

Buộc bà Nguyễn Thanh T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ của thẻ tín dụng Visa Classic số 3134443344 tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2025 là 133.633.581 đồng (một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn năm trăm tám mươi mốt đồng), trong đó: nợ gốc là 68.331.981 đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2025/DS-ST
Ngày: 30-5-2025
V/v tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Hà Như Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hữu Trọng

2. Ông Phạm Duy Bảo

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Cẩm Vân - Thư ký viên Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 235/2024/DSST ngày 05 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Địa chỉ trụ sở chính: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, sinh năm 1973, chức danh: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S, địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1996, chức vụ: Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1993, địa chỉ thường trú: Số A P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S và trong quá trình giải quyết vụ án, những người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 22 tháng 9 năm 2022, bà Nguyễn Thanh T (viết tắt là bà T) có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (viết tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng), hạn mức tín dụng là 60.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,77%/tháng (lãi suất trong hạn). Ngân hàng đã cấp cho bà T thẻ tín dụng Visa Classic số 3134443344.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 153.026.117 đồng. Bà T phải thanh toán tiền lãi phát sinh và các khoản phí theo quy định tại Điều 23 và Điều 25 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng; chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt cho đến nay, bà T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 90.992.046 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã được quy định tại Điều 18 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 11 tháng 7 năm 2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ bà T còn thiếu tại thời điểm này là 68.331.981 đồng sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 24 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 2,77%/tháng x 150%.

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà T thanh toán nợ vay quá hạn nhưng bà T vẫn chưa thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký nên Ngân hàng khởi kiện đến Tòa án.

Tính đến ngày 04 tháng 4 năm 2025 bà T còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 128.246.883 đồng, trong đó: nợ gốc là 68.331.981 đồng, lãi quá hạn là 59.914.902 đồng. Vì thế, Ngân hàng yêu cầu bà T phải trả ngay số tiền nợ thẻ tín dụng tạm tính tính đến ngày 04 tháng 4 năm 2025 là 128.246.883 đồng và thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 05 tháng 4 năm 2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Ngân hàng chỉ yêu cầu bà T thanh toán khoản nợ trên, không yêu cầu chồng bà T thanh toán.

Bị đơn là bà Nguyễn Thanh T được Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng bà T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

- Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn là ông Nguyễn Huy H vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại bản tự khai ngày 30 tháng 5 năm 2025, ông H xác định nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thanh T trả cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2025 tổng cộng là 133.633.581 đồng, trong đó nợ gốc là 68.331.981 đồng, lãi quá hạn là 65.301.600 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 31 tháng 5 năm 2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

- Bị đơn là bà Nguyễn Thanh T vắng mặt, không rõ lý do nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt, không rõ lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S, buộc bị đơn là bà Nguyễn Thanh T thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn thiếu tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2025 là 133.633.581 đồng, trong đó: nợ gốc là 68.331.981 đồng, nợ lãi quá hạn là 65.301.600 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 31 tháng 5 năm 2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22 tháng 9 năm 2022 và Điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Bị đơn chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thanh T thanh toán tiền nợ gốc và nợ lãi còn thiếu phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng. Ngân hàng đã thực hiện khởi kiện theo địa chỉ của bà T là 1 P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, được ghi trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22 tháng 9 năm 2022. Ngày 03 tháng 12 năm 2024, Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp thông tin là bà T có hộ khẩu thường trú tại số A P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương. Kết quả xác minh ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Công an phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện bà T không thực tế cư trú tại địa chỉ số A đường G, khu phố H, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại văn bản số 6315/QLXNC-Đ1 ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Phòng Q1, Công an Thành phố H đã cung cấp thông tin bà T đã xuất, nhập cảnh vào Việt Nam 02 lần, lần gần nhất nhập cảnh vào ngày 22 tháng 8 năm 2018. Bà T thay đổi địa chỉ cư trú mà không thông báo cho Ngân hàng là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng xác định đây là quan hệ tranh chấp dân sự về hợp đồng thẻ tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Huy H là người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là bà Nguyễn Thanh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt, không rõ lý do. Do đó, căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về yêu cầu của đương sự:

Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu bị đơn là bà Nguyễn Thanh T trả tiền nợ thẻ tín dụng còn thiếu tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2025 với tiền nợ gốc là 68.331.981 đồng, lãi quá hạn là 65.301.600 đồng và trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 31 tháng 5 năm 2025 đến khi trả hết nợ theo lãi suất các bên thỏa thuận.

Về tiền nợ gốc:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22 tháng 9 năm 2022, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (có hiệu lực kể từ ngày 11 tháng 6 năm 2021) cũng như trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, có cơ sở xác định, Ngân hàng Thương mại cổ phần S có cấp cho bà Nguyễn Thanh T thẻ tín dụng quốc tế Visa Classic số 3134443344, hạn mức sử dụng là 60.000.000 đồng, mục đích để tiêu dùng cá nhân.

Căn cứ Tóm tắt sao kê thẻ tín dụng số 3134443344 do Ngân hàng cung cấp có cơ sở xác định, kể từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 153.026.117 đồng và bà T đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 90.992.046 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán theo Điều 20 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 11 tháng 7 năm 2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ bà T còn thiếu tại thời điểm này là 68.331.981 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định tại Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Về tiền nợ lãi: Căn cứ Quyết định số 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S, lãi suất thẻ tín dụng được áp dụng kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2019 là 2,77%/tháng, lãi suất nợ quá hạn là 150% x 2,77%/tháng = 4,155%/tháng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà T phải thanh toán nợ lãi quá hạn của thẻ tín dụng nêu trên từ ngày 11 tháng 7 năm 2023 đến ngày 30 tháng 5 năm 2025 với số tiền 65.301.600 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn là bà Nguyễn Thanh T về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như các tài liệu, chứng cứ kèm theo mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án nhưng bà T không có ý kiến phản hồi cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc đưa ra không đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vì vậy, nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu bị đơn là bà Nguyễn Thanh T phải thanh toán số tiền nợ thẻ tín dụng tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2025 là 133.633.581 đồng (gồm: nợ gốc là 68.331.981 đồng, nợ lãi quá hạn là 65.301.600 đồng) là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 280, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị đơn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22 tháng 9 năm 2022, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S:

Buộc bà Nguyễn Thanh T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ của thẻ tín dụng Visa Classic số 3134443344 tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2025 là 133.633.581 đồng (một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn năm trăm tám mươi mốt đồng), trong đó: nợ gốc là 68.331.981 đồng (sáu mươi tám triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn chín trăm tám mươi mốt đồng), nợ lãi quá hạn là 65.301.600 đồng (sáu mươi lăm triệu ba trăm lẻ một nghìn sáu trăm đồng).

Thực hiện thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày 31 tháng 5 năm 2025, bà Nguyễn Thanh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 22 tháng 9 năm 2022, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Án phí dân sự sơ thẩm là 6.681.679 đồng (sáu triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm bảy mươi chín đồng) do bà Nguyễn Thanh T chịu.

Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.424.160 đồng (hai triệu bốn trăm hai mươi bốn nghìn một trăm sáu mươi đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0036403 ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại cổ phần S, bà Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ