- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: ông Hoàng K, bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng K và bà Nguyễn Thị H. Buộc bà Nguyễn Thị Q trả lại diện tích đất đang tranh chấp là 78m2 cho ông K, bà H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2024/DS-PT Ngày: 16 - 4 - 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán:
ông Trương Minh Tuấn
ông Lê Văn Thường
- Thư ký phiên tòa: bà Đoàn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Lê Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần: trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án dân sự thụ lý số 273/2023/TLPT-DS ngày 22 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2023/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 469/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Hoàng K, bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt tại phiên toà.
2. Bị đơn: bà Nguyễn Thị Q; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: bà Lê Thị T; địa chỉ: căn shophouse A22 M, F T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt tại phiên toà.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Võ Văn M, bà Đào Thị L; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
3.2. Ông Cao Trọng T1; địa chỉ: Xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có mặt tại phiên toà.
3.3. Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị, có Đơn xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: bị đơn là bà Nguyễn Thị Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo Đơn khởi kiện, các tài liệu, ch ng c có tại h sơ vụ án và tr nh bày của nguyên đơn thể hiện:
Ông Hoàng K, bà Nguyễn Thị H có thửa đất số 677, tờ bản đ số 04 diện tích 272,0m2 tại xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) ngày 01 tháng 3 năm 2021.
Quá tr nh sử dụng đất, ông K và bà H đăng ký đo đạc để cắm mốc lại ranh giới thửa đất th xảy ra tranh chấp với hộ gia đ nh liền kề là bà Nguyễn Thị Q trú tại thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Lý do: bà Q cho rằng ông K, bà H lấn chiếm đất của gia đ nh bà quýt, mặc dù hai bên đã có GCNQSDĐ rõ ràng.
Do đó, ông K và bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Q trả lại phần diện tích đang tranh chấp có chiều ngang 4m và chiều dài 38,1m, tổng diện tích 152,4m tại thửa đất số 677, tờ bản đ số 04 tại thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị có giá trị là 300.000.000đ (ba trăm triệu đ ng chẵn).
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xác định lại phần diện tích đất đang tranh chấp là 78m2 theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Hải Lăng.
2. Bị đơn bà Nguyễn Thị Q tr nh bày:
Toàn bộ thửa đất mà gia đ nh bà Q đang sử dụng và diện tích ông K nhận chuyển nhượng từ ông T1 là của gia đ nh bà khai hoang trước năm 1986. Diện tích đất của gia đ nh bà Q giáp ranh diện tích đất hộ gia đ nh ông Võ Tánh .
Năm 2003, vợ ch ng ông M, bà L (anh trai của ch ng bà Q) từ miền N ra không có nhà ở. Do đó, vợ ch ng bà Q đã cắt chiều ngang 4m và chiều dài 38m là 152m2 và phía gia đ nh ông Võ T2 cắt thêm diện tích chiều ngang 2m và chiều dài 38m để cho gia đ nh ông M làm nhà ở tạm.
Điều kiện mà gia đ nh bà Q và ông T2 yêu cầu là gia đ nh ông M chỉ được ở, không được tự ý mua bán chuyển nhượng, v đây là đất của bà Q và ông T2. Tuy nhiên, bà Q và ông T2 không hiểu v sao ông M, bà L được cấp GCNQSDĐ này. Tại GCNQSDĐ của ông M, bà L còn lấn sang thêm 4m ngang đất (tổng cộng là 8m ngang), dài 38m với tổng diện tích 304m2.
Thời điểm phát hiện ông M được cấp GCNQSDĐ là khi ông M chuyển nhượng cho ông Cao Trọng T1. Bà Q đã nhiều lần yêu cầu Uy ban nhân dân (UBND) xã H tổ ch c hòa giải, trong thời gian giải quyết tranh chấp th ông T1 tiếp tục chuyển nhượng cho ông K, bà H.
Nay bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết: hủy GCNQSDĐ đã cấp cho ông K, bà H và trả lại diện tích đất 304m2 cho gia đ nh bà Q.
3. Ý kiến tr nh bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Cao Trọng T1:
Đ ng ý với toàn bộ nội dung tr nh bày ý kiến và yêu cầu của nguyên đơn là ông Hoàng K, bà Nguyễn Thị H. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Q trả lại cho ông K, bà H diện tích đang tranh chấp để các bên tiếp tục việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Với nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2023/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Áp dụng khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 34; khoản 1 Điều 37; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 165; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 166; Điều 175; khoản 1 Điều 176 Bộ luật Dân sự. Điều 12; khoản 1, khoàn 5 Điều 166 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Khoản 2 Điều 26; khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng K và bà Nguyễn Thị H.
2. Buộc bà Nguyễn Thị Q trả lại diện tích đất đang tranh chấp là 78m2 cho ông K, bà H. Theo Sơ đ thửa đất của kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13 tháng 01 năm 2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03 tháng 10 năm 2023 bà Nguyễn Thị Q kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn tr nh bày giữ nguyên Đơn khởi kiện. Người đại diện theo uỷ
quyền của bị đơn tr nh bày giữ nguyên Đơn kháng cáo.
Nguyên đơn tr nh bày: đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn tr nh bày: đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm xem xét tường tận về ngu n gốc sử dụng đất có tranh chấp. Việc cấp GCNQSDĐ cho ông M là có vi phạm v không có ký giáp ranh. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận Đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Ông Cao Trọng T1 tr nh bày: đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa
phát biểu:
Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý phúc thẩm vụ án, đến trước thời điểm nghị án là đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Q là trong thời hạn luật định.
Về nội dung vụ án: tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay người đại diện
theo uỷ quyền của bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, ch ng c mới. Toà án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bà Nguyễn Thị Q trả lại 78m2 đất cho nguyên đơn là có căn c , đúng pháp luật. Đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xéttại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sựvà của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Ngày 03 tháng 10 năm 2023 bà Nguyễn Thị Q kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2023/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị. Như vậy, kháng cáo của bà Nguyễn Thị Q là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đ ng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Xét kháng cáo của bị đơn:
Ngày 15 tháng 12 năm 2022 Toà án nhân dân huyện Hải Lăng tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đã xác định: diện tích đất tranh chấp là 78m2. Phần diện tích đất tranh chấp 87m2 nằm trong thửa đất số 667, tờ bản đ số 04 tại thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị có tổng diện tích 374m2 theo GCNQSDĐ số AL 184838 do UBND huyện H cấp cho hộ ông Võ Văn M, bà Đào Thị L ngày 24 tháng 10 năm 2007.
Ngu n gốc diện tích đất tranh chấp:
Năm 1999 hộ ông Võ Văn M kê khai thể hiện tại Sổ mục kê năm 1999. Ngày 31 tháng 7 năm 2006 Hội đ ng tư vấn giao đất xã H lập Biên bản xét duyệt đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ, kèm theo danh sách xét cấp GCNQSDĐ. Ngày 07 tháng 12 năm 2006 UBND xã H ban hành Quyết định số 1690/QĐ-UBND cấp GCNQSDĐ cho 1.122 hộ gia đ nh, trong đó có hộ ông Võ Văn M, bà Đào Thị L được UBND huyện H cấp GCNQSDĐ số AL 184838 ngày 24 tháng 10 năm 2007 thửa đất số 667, tờ bản đ số 04 với diện tích 374m2 tại thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trong đó: đất ở tại nông thôn 207m2 và đất tr ng cây lâu năm khác 167m2. Ngu n gốc sử dụng: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất.
Quá tr nh sử dụng đất:
Ngày 19 tháng 5 năm 2014 UBND huyện H ban hành Quyết định số 614/QĐ-UBND thu h i của hộ ông Võ Văn M, bà Đào Thị L 102m2 đất, trong đó: 56m2 đất ở tại nông thôn và 46m2 đất tr ng cây lâu năm. Diện tích đất còn lại của hộ ông Võ Văn M, bà Đào Thị L là 272m2, trong đó: 151m2 đất ở tại nông thôn và 121m2 đất tr ng cây lâu năm (theo h sơ số: 021401).
Ngày 30 tháng 01 năm 2021 các thành viên hộ gia đ nh ông Võ Văn M, bà Đào Thị L ký Hợp đ ng uỷ quyền cho ông Đào Bá S được quản lý… chuyển nhượng đối với 272m2 đất còn lại của thửa đất số 667, tờ bản đ số 04 theo GCNQSDĐ số AL 184838 ngày 24 tháng 10 năm 2007.
Ngày 03 tháng 02 năm 2021 ông Đào Bá S ký Hợp đ ng chuyển nhượng 272m2 đất của thửa đất số 667, tờ bản đ số 04 theo GCNQSDĐ số AL 184838 ngày 24 tháng 10 năm 2007 cho ông Cao Trọng T1 và được UBND xã H ch ng thực. Ngày 01 tháng 3 năm 2021 ông Cao Trọng T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp GCNQSDĐ số CX 939312 thửa đất số 667, tờ bản đ số 04 diện tích 272m2.
Ngày 04 tháng 01 năm 2022 Cao Trọng T1 ký Hợp đ ng chuyển nhượng 272m2 đất tại thửa đất số 667, tờ bản đ số 04 cho ông Hoàng K, bà Nguyễn Thị H.
Tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, ch ng c mới. Căn c vào những tài liệu, ch ng c có trong h sơ vụ án, nội dung tr nh bày của đương sự và những nội dung được phân tích tại các mục [1], [2] nêu trên, Hội đ ng xét xử phúc thẩm thấy rằng: bản án sơ thẩm quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn c , đúng pháp luật. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Q phải chịu theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Áp dụng khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 34; khoản 1 Điều 37; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 165; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 166; Điều 175; khoản 1 Điều 176 Bộ luật Dân sự. Điều 12; khoản 1, khoàn 5 Điều 166 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Khoản 2 Điều 26; khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng K và bà Nguyễn Thị H. Buộc bà Nguyễn Thị Q trả lại diện tích đất đang tranh chấp là 78m2 cho ông K, bà H.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000đ, được trừ vào số tiền bà Q đã nộp theo Biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Toà án số 0000004 ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Thành viên Hội đồng xét xử
| (Đã ký) Trương Minh Tuấn Lê Văn Thường | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Quốc Cường |