- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn tuyên - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112 /2023/HSST Ngày: 28-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thẩm – Ông Trần Quốc Đấu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 28/4/2023 Tòa án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2023/TLST - HS ngày 22/3/2023 tại điểm cầu trung tâm: Phòng xử án trực tuyến Trụ sở Tòa án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An; điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2023/ QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T; sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT: Xóm 1, xã L, huyện N, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Văn Dung và bà: Lê Thị Toàn; Vợ : Hoàng Thị Trang, con: có ba con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017 ; Tiền án : Không ; Tiền sự : Ngày 27/10/2021, công an huyện N xử phạt hành chính số tiền 2.700.000 đồng về hành vi “Xâm phạm sức khoẻ người khác” và hành vi “Có cử chỉ lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác” Chưa chấp hành hình phạt; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2023 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 04/01/2023 do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Nguyễn Văn T đã liên lạc với một nam thanh niên tên Công (T không biết lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 500.000 đồng ma tuý Heroine. Công đồng ý và hẹn T đến ngõ 47, đường Lê Lai, cạnh bến xe cũ để lấy ma tuý. T điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn thì gặp Công và Công đưa cho T 01 gói bên ngoài bọc bằng giấy chống ẩm màu vàng nhạt, bên trong chứa chất cục bột màu trắng, T đưa cho Công số tiền 500.000 đồng và cầm gói ma tuý ở trong bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày khi T đi đến trước số nhà 34 đường Lê Lai, khối 3, phường Lê Lợi, thành phố Vinh thì bị công an phường Lê Lợi kiểm tra và bắt giữ.
Tại kết luận giám định số 85/KL– KTHS (Đ2-MT) ngày 09/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất cục bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T là ma tuý Heroine, có khối lượng 0,175 gam.
Cáo trạng số 100/CT-VKS-TPV ngày 20/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Nguyễn Văn T về tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy‟ theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng :
Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy Heroine hiện có tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.
Tịch thu hoá giá sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, không có tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra – công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/01/2023 tại trước số nhà 34 đường Lê Lai, khối 3, phường Lê Lợi, thành phố Vinh; Nguyễn Văn T đã có hành vi cất dấu ma túy Heroine có khối lượng 0,175 gam để sử dụng. Xét về nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo nên Viện kiểm sát nhân thành phố Vinh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước; Gây mất trật tự trị an xã hội và còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính nên cần xử lý nghiêm mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Với những phân tích như trên nghĩ cần xử phạt bị cáo cao mức khởi điểm của khung hình phạt và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, lại là người nghiện, tài sản riêng không có nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
. Về vật chứng: Đối với số ma túy Heroine thu giữ ở bị cáo được xác định là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo được xác định là công cụ phạm tội cần tịch thu hoá giá sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Wave alpha màu trắng biển kiểm soát 37N1-618.56. Quá trình xác minh chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Hằng, chị Hằng không biết bị cáo sử dụng xe máy để tàng trữ trái phép chất ma tuý nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Vinh đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.
. Về các vấn đề khác : Đối với người đàn ông tên Công đã bán ma tuý cho bị cáo do bị cáo không biết rõ lai lịch địa chỉ của người này nên không có cơ sở để xem xét.
.Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình phạt: Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (05/01/2023). Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong dán kín ghi vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T có chứa ma túy Heroine hiện có tại kho chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, Nghệ An theo phiếu nhập kho vật chứng số NK2022/129 ngày 07/4/2023.
Tịch thu hoá giá sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo hiện có tại kho chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, Nghệ An theo phiếu nhập kho vật chứng số NK2022/129 ngày 07/4/2023.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4. Về kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày T án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| N¬i nhËn - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND tỉnh Nghệ An - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An - VKSND TP Vinh - Chi cục THA DS TP Vinh - Công an TP Vinh - Bị cáo - Lưu hồ sơ | T/M Héi §ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ Phạm Thị Minh Hiền |