vanban.org

Bản án 112/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 12/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vương Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Phạt bị cáo Vương Phi H 01 ( Một ) năm, 06 ( Sáu) tháng tù, tính từ ngày bị tạm giữ 02/3/2023. Về vật chứng: Áp dụng khoản Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015;Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Phi H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vương Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2023/HSST
Ngày: 13/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nhơn;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bạch Quảng và bà Ngô Thị Thao.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Vương Phi H (tên gọi khác: Không), 1976 tại Khánh H; nơi thường trú: Thôn An L, xã Ninh T, thị xã Ninh H, tỉnh Khánh H; Chỗ ở trước khi bị bắt: Nhà trọ số 13/9 đường Chu Văn A, Tổ 05, phường Phù Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con bà Vương Thị Kim H (đã chết); có vợ là Đoàn Thị Thanh L; sinh năm 1976 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2003.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Về quan hệ nhân thân, bị cáo có ông ngoại: Vương Kim M, cậu ruột: Vương K là liệt sỹ.

Bị cáo Vương Phi H bị tạm giữ từ ngày 02/3/2023 đến ngày 11/3/2023 áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.

Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trương Quang V, sinh năm 1977; tổ 05, phường Phù Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Hải L, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ 5, phường Phù Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vương Phi H sử dụng chất ma túy từ khoảng cuối năm 2022. Qua mối quan hệ xã hội, H quen biết với người đàn ông tên Cu Lỳ (không rõ nhân thân, lai lịch) là người có ma túy, Cu Lỳ biết H có sử dụng ma túy. Vương Phi H khai: Khoảng 08 giờ ngày 01/3/2023, Cu Lỳ gọi điện thoại cho H hẹn ra đầu hẻm 13 đường Chu Văn A, Tổ 05, phường Phù Đ để nói chuyện rồi cho ma túy nên H đi bộ đến điểm hẹn thì gặp Cu Lỳ. Cả hai đứng nói chuyện được một lúc thì Cu Lỳ cho H 01 gói nilon bên trong có chứa ma túy đá, H cầm gói ma túy trên tay rồi đi bộ về nhà trọ tại số 13/9 đường Chu Văn A, Tổ 05, phường Phù Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Về đến nơi, H cất giấu gói ma túy này trên trần nhà bếp, để khi nào cần thì lấy ra sử dụng. Đến 20 giờ 30 phút ngày 02/3/2023, khi H đang ở nhà trọ thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố P phối hợp với Công an phường Phù Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng, gồm: 01 gói nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (đã được niêm phong theo quy định); 01 điện thoại hiệu Nokia màu xanh kèm sim số đã qua sử dụng, mặt sau sim có dãy số 8984 04800 882382 5845 (Bút lục số: 23-24, 25, 31; 31A-33; 41-50; 51-52).

Qua trưng cầu, tại bản Kết luận giám định số 245/KL-KTHS ngày 09/3/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,5514 gam” (Bút lục số 29).

Đối với chất ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn ghi “Số 245/PC09 ngày 09 tháng 3 năm 2023” có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chuyển theo vụ án để xử lý.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh kèm sim số là của bị cáo H đã sử dụng liên lạc với đối tượng Cu Lỳ để nhận ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chuyển theo vụ án để xử lý.

Tại Bản Cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 26/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố bị cáo Vương Phi H ra trước Tòa để xét xử về tội “Tàng trữ tái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vương Phi H, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù, tính từ ngày bị tạm giữ 02/3/2023;

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định; tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động NOKIA và tịch thu tiêu hủy sim số - đều là công cụ mà bị cáo liên lạc để nhận ma túy.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Vương Phi H thừa nhận toàn nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố đúng như diễn biến hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện và không có ý kiến tranh luận gì về mức hình phạt cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiếm sát đề nghị trong bản luận tội;

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo cho rằng, sau thời gian bị giam giữ, bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về lao động để nuôi sống gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Bị cáo Vương Phi H đã từng sử dụng ma túy Methamphetamine.

Vương Kim H là đối tượng đã từng sử dụng chất ma túy, không có nghề nghiệp, thuê nhà ở trọ tại số 13/9 đường Chu Văn A, tổ 5, phường Phù Đ, thành phố P, Gia Lai của anh Trương Quang Vinh, có quan hệ với người tên thường gọi là Cu Lỳ. Người này biết H sử dụng ma Túy. Ngày 01/3/2023 Cu Lỳ gọi H ra đầu hẻm số 13 đường Chu Văn A, tổ 5, phường Phù Đ, thành phố P và cho H một gói ma túy đá. Bị cáo mang về nhà trọ cất giấu để sử dụng.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 02/3/2023, khi bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với các cơ quan chức năng tại địa phương kiểm tra nơi ở, bị cáo H đã tự nguyện chỉ ra vị trí điểm cất giấu ma túy của mình trên trần nhà bếp cho cơ quan chức năng thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 245/ KL-KTHS ngày 09/3/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia lai xác định loại ma túy mà H cất giấu là là Methamphetamine, khối lượng 2,5514gam.

Như vậy, Cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố Vương Phi H ra trước Tòa án nhân dân thành phố P để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có nhận thức tốt, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà bị cáo thực hiện. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tù nghiêm khắc, cách ly ra khỏi đời sống xã hội để giáo dục, cải tạo để bị cáo tiến bộ và nhằm răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, bị cáo đã tự nguyện khai báo vị trí cất giấu ma túy cho cơ quan chức năng khi bị kiểm tra, nên được xem đây là tình tiết đầu thú và tỏ thái độ ăn năn hối cải khi thành khẩn khai nhận hành vi thực hiện tội phạm của mình trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa. Và đồng thời, bị cáo có ông ngoại và cậu ruột là người có công với cách mạng, đã hy sinh trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ được công nhận là liệt sỹ, nên cần được xem xét giảm mức hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách đến ơn, đáp nghĩa với người có công với nước của Nhà nước đối với thân nhân của họ. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu. Vì vậy sẽ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm d, khoản 1, Điều 3 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt mức án tù nhẹ hơn để đảm bảo nguyên tắc: “Khoan hồng đối với người đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo”, cho bị cáo cơ hội để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng làm ăn sinh sống. Vì vậy, mặc dù mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định, nhưng cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo là thỏa đáng.

Đối với đối với đối tượng tên Cụ Lỳ, người cung cấp ma túy cho H, hiện nay chưa xác định được nhân thân, lý lịch; khi nào bắt sẽ xử lý sau.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định, được Phòng khoa học hình sự Công an tỉnh Gia Lai niêm phong trong bì công văn ghi số 245/PC09 ngày 09/3/2023; Tịch thu tiêu hủy sim số mặt sau có dãy số 898404800 882382 5845; sung ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại mà bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Tình trạng vật chứng như trong biên bản bàn giao giữa cơ quan Công an và Chi cục Thi hàn án dân sự thành phố P.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các ý kiến đề nghị khác của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vương Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm: s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 3 của Bộ luật Hình sự năm 2015,

Tuyên xử:

Phạt bị cáo Vương Phi H 01 ( Một ) năm, 06 ( Sáu) tháng tù, tính từ ngày bị tạm giữ 02/3/2023.

Về vật chứng: Áp dụng khoản Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015;Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định, được Phòng khoa học hình sự Công an tỉnh Gia Lai niêm phong trong bì công văn ghi số 245/PC09 ngày 09/3/2023;

Tịch thu tiêu hủy sim số mặt sau có dãy số 898404800 882382 5845;

Tịch thu sung ngân sánh Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu xanh

( Tình trạng và số lượng vật chứng như trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 95/2023 ngày 28/6/2023 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia lai)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Vương Phi H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, ngĩa vụ liên quanc có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ