- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn P, Nguyễn Đình T phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 112/2023/HSST Ngày: 10/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Thẩm phán:
1. Ông Phạm Văn Phấn
2. Bà Thái Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Viết Ngọc - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 61/2023/TLPT-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo Trương Văn P và Nguyễn Đình T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2023/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Trương Văn P; Sinh ngày: 26 tháng 12 năm 1979 tại huyện N, tỉnh NA; Nơi cư trú: xóm T, xã NT, huyện N, tỉnh NA; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Văn L và bà Nguyễn Thị H; Có vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1980 và có 02 con: lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân:
- Bản án số 41 ngày 15/8/1997 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án số 18 ngày 13/3/2001 của Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án số 99 ngày 07/8/2002 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án số 223 ngày 25/10/2007 của Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Ngày 16/7/2014, bị Công an huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng.
- Bản án số 32/2019/HSST ngày 14/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
2. Nguyễn Đình T; Sinh ngày: 11 tháng 12 năm 1984 tại huyện N, tỉnh NA; Nơi cư trú: xóm H, xã K, huyện N, tỉnh NA; Nơi tạm trú: Xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh NA; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình C, Sinh năm: 1944 và bà Nguyễn Thị M; sinh năm: 1947; Có vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1986 và có 01 con: sinh năm 2012; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 22/10/2021, bị Công an huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ra Quyết định số 173/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính 3.250.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác (đã nộp phạt ngày 16/11/2021); Nhân thân: Bản án số 24/2020/HS-ST ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” (đã nộp phạt ngày 10/11/2020).
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 6 bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Đình P1, Hoàng Mạnh T1, Nguyễn Văn H, Trịnh Văn K và Phùng Ngọc T2 không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị. Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tin báo của quần chúng, vào khoảng 17 giờ ngày 06/10/2022, tổ công tác Công an huyện Nghi Lộc phát hiện bắt quả tang tại quán cà phê P của Nguyễn Văn S (tại xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh NA) có một số đối tượng đang đánh bạc trái phép bằng hình thức “Đánh xóc đĩa”, thu giữ trên chiếu bạc 01 bát + 01 đĩa sứ màu trắng + 04 con vị và số tiền 27.050.000 đồng; thu giữ trong người các đối tượng số tiền 26.000.000 đồng (gồm Hoàng Mạnh T1 12.500.000 đồng; Trịnh Văn K 3.500.000 đồng; Phùng Ngọc T2 10.000.000 đồng) và thu giữ của Nguyễn Văn S số tiền 400.000 đồng. Trong lúc bắt giữ lộn xộn, có một số đối tượng đã trốn thoát, còn Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn H, Trương Văn P, Nguyễn Đình P1 do nhảy từ tầng 2 xuống bị thương nên bị bắt giữ ngay.
Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận: vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/10/2022, Trương Văn P, Hoàng Mạnh T1, Phùng Ngọc T, Nguyễn Đình T, Trịnh Văn K, Nguyễn Văn H và Nguyễn Đình P lần lượt đến quán cà phê P của Nguyễn Văn S. Cả bọn rủ nhau lên tầng 2 đánh bạc thì được S đồng ý. Tại đây đã có 01 chiếc chiếu đã được trải sẵn có để 01 chiếc bát, 01 chiếc đĩa làm bằng sứ màu trắng và 04 quân vị hình tròn được cắt từ lá bài Tú lơ khơ. Cả bọn rủ nhau đánh bằng hình thức “Xóc đĩa, cửa chẵn, cửa lẻ”, P là người cầm cái. Trong quá trình đánh bạc, P trả cho S 400.000 đồng tiền hồ. Ngoài P, T1, K, T2, T, H, P1 thì còn có những đối tượng khác không rõ danh tính cũng tham gia đặt cửa.
Số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc, cụ thể: P: 2.700.000 đồng, T1: 5.000.000 đồng, K: 500.000 đồng, T1: 2.500.000 đồng, H: 1.300.000 đồng, P1: 600.000 đồng, T: 2.500.000 đồng và số tiền 11.950.000 đồng của các đối tượng khác tham gia đánh bạc chạy thoát đã bỏ lại trên chiếu bạc khi bị bắt quả tang.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2023/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Trương Văn P, Nguyễn Đình T phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác từ 6 tháng tù cho hưởng án treo đến 01 năm tù và tuyên về xử lý vật chứng, quyết định án phí, quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/02/2023, bị cáo Nguyễn Đình T kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Ngày 03/3/2023, bị cáo Trương Văn P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trương Văn P và Nguyễn Đình T giữ nguyên nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:
- Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Văn P 01 (một) năm tù.
- Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 06 tháng tù.
Các bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và chứng cứ, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo được gửi trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Kháng cáo của các bị cáo là đúng quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trương Văn P, Nguyễn Đình T hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của Bản án sơ thẩm. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai tại Tòa án cấp sơ thẩm và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: Trong thời gian từ 15 giờ 30 phút đến 17 giờ ngày 06/10/2022, tại quán cà phê P của Nguyễn Văn S thuộc xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh NA, được sự đồng ý của Nguyễn Văn S nên các bị cáo Trương Văn P, Hoàng Mạnh T1, Trịnh Văn K, Phùng Ngọc T2, Nguyễn Đình T, Nguyễn Văn H, Nguyễn Đình P1 và một số đối tượng khác không xác định được danh tính đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “xóc đĩa”, với tổng số tiền là 27.450.00 đồng thì bị tổ công tác Công an huyện Nghi Lộc phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, hành vi đánh “xóc đĩa”, được thua bằng tiền của các bị cáo Trương Văn P, Nguyễn Đình T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 BLHS. Các bị cáo lại thực hiện hành vi với tổng số tiền xác định được vào việc đánh bạc là 27.450.000 đồng nên việc tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
[3] Xét nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của các bị cáo Trương Văn P, Nguyễn Đình T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1]. Xét nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt: tuy đây là vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng tại khu vực đông dân cư sinh sống, các bị cáo Trương Văn P, Nguyễn Đình T đã tụ tập đông người để đánh bạc làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Đối với bị cáo Trương Văn P là đối tượng tích cực thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp cầm cái trong quá trình tham gia đánh bạc. Khi xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo P để xử phạt bị cáo Trương Văn P 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc” là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm: bản sao Giấy chứng nhận thương binh của ông Trương Xuân L, bằng Tổ quốc ghi công của liệt sỹ Trương Minh H, Giấy chứng nhận tặng thưởng Huân chương của ông Trương Văn B và bà Trần Thị L… nhưng không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh mối quan hệ nhân thân của bị cáo với những người này nên không xem xét đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Đối với bị cáo Nguyễn Đình T: Khi xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; trong gia đình bị cáo có bố đẻ Nguyễn Đình C là người có công với cách mạng để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, khi thực hiện hành vi bị cáo vào tham gia đánh bạc sau với số tiền đánh bạc không lớn nên là đồng phạm giữ vai trò thứ yếu trong vụ án; tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới là: bản thân bị cáo đã có nhiều đóng góp và ủng hộ trong công tác phòng chống dịch Covid – 19 được UBND phường N, Thị xã C tặng Giấy khen nên cần áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ để giáo dục cải tạo và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[3.2]. Xét nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bản thân các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo P đã bị Tòa án xử phạt và cơ quan tổ chức xử lý đến lần thứ sáu nhưng vẫn không chịu lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo T phạm tội trong thời gian chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính của lần vi phạm trước nên đều không đủ điều kiện cho hưởng án treo như kháng cáo của các bị cáo. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về biện pháp chấp hành hình phạt, không cho các bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với quy định pháp luật về điều kiện cho hưởng án treo.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Trương Văn P không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2023/HSST ngày 27/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Trương Văn P.
2. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Trương Văn P 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
3. Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2023/HSST ngày 27/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đình T.
4. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b, h Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trương Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Đình T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND huyện Nghi Lộc; - VKSND huyện Nghi Lộc; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Lộc; - Cơ quan T.H.A hình sự huyện Nghi Lộc; - Bị cáo kháng cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Lưu HSVA, THS. CÁC THẨM PHÁN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |