vanban.org

Bản án 112/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 16/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hầu Văn H, Hoàng Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Hầu Văn H 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội „‟Mua bán trái phép chất ma t y‟‟, th i hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/02/2023. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 16/6/2023 để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 26… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hau van hai hoang van nam pham toi mua ban trai phep chat ma tuy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hầu Văn H, Hoàng Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2023/HSST
Ngày: 16/6/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu H.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Tô Thành C

Bà Ngô Thùy P

- Thư ký phiên tòa: Bà Hạp Thị Lan P Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh B tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình T - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh B và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Q tỉnh B xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2023/TLST-HS, ngày 12 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-HS ngày 02/6/2023 đối với các bị cáo:

1. Hầu Văn H, sinh năm 1989; HKTT: Thôn C, xã Puyện P, tỉnh T Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn 09/12; Dân tộc: Sán Chí; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Bố đẻ: Hầu Văn T, sinh năm 1966 (đã chết); mẹ đẻ: Vũ Thị Â, sinh năm 1964; gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trần Thị T, sinh năm 1992; con có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02//2023 đến nay, có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

2. Hoàng Văn N, sinh năm 1999; HKTT: Thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Lơn; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn 09/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Bố đẻ: Hoàng Văn T, sinh năm 1968; mẹ đẻ: Mông Thị L, sinh năm 1966; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Hứa Thị T, sinh năm 2001; con có 01 con, sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02//2023 đến nay, có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.

Những người được triệu tập tại điểm cầu trung tâm:

*Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn N: Ông Nguyễn Việt K, Trợ gi p viên pháp lý thuộc trung tâm trợ gi p pháp lý Nhà nước tỉnh B; Địa chỉ: Số 08, đư ng Pphư ng S, thành phố B, tỉnh B- có đơn xin vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

1. Ông Nguyễn Kim S- Cán bộ phụ trách tin học thuộc TAND thị xã Q.

2. Cán bộ Trại tạm giam - Công an tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 gi 15 ph t ngày 17/02/2023, tại khu M, phư ng P, thị xã Q, tỉnh B Hầu Văn H nh Hoàng Văn N bán hộ 0,0659 gam ma túy Heroine cho đối tượng tự khai là Nguyễn Văn P với giá 200.000đ thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Ngoài ra H còn tàng trữ 0,1289 gam ma túy Heroine mục đích để bán kiếm l i. Như vậy H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 0,1948 gam ma túy Heroin, N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 0,0659 gam ma túy Heroine.

Vật chứng thu giữ: Tại lòng bàn tay trái của P 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa gói giấy bạc màu trắng mở ra chứa chất bột màu trắng (được niêm phong vào phong bì thư), P khai nhận đây là ma t y vừa mua được của N. Thu giữ tại t i quần phía trước bên trái của Nsố tiền 200.000 đồng, N khai nhận đây là tiền vừa bán ma t y cho P, số ma t y là của H nh bán hộ. Thu giữ tại t i quần phía trước bên phải của H 01 t i nilon màu trắng chứa 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chất bột màu trắng (được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu M), Hải khai nhận đây là ma t y của H để bán khi có ngư i hỏi mua. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định có sự chứng kiến của anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1984, HKTT: Khu T, phư ng N, thị xã Q, tỉnh B và anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1999, HKTT: Tổ dân phố B, phư ng D, thị xã M, tỉnh H.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hầu Văn H tại khu G, phư ng P, thị xã Q và chỗ ở của Hoàng Văn N tại khu M, phư ng P, thị xã Q không phát hiện thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số: 518/KL-KTHS ngày 19/02/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: “+ Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư không có kí hiệu gửi giám định có khối lượng là 0,0659 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine;

+ Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư kí hiệu M gửi giám định có khối lượng là 0,1289 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine’’.

Bản Cáo trạng số 72/CT-VKSQV ngày 11/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Btruy tố bị cáo Hầu Văn H, Hoàng Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma t y” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và thừa nhận Bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội ''Mua bán trái phép chất ma t y'' là đ ng ngư i, đ ng tội, đ ng pháp luật.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hầu Văn H, Hoàng Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt Hầu Văn H từ 28 đến 32 tháng tù về tội „‟ Mua bán trái phép chất ma t y‟‟, th i hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 17/02/2023. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt Hoàng Văn N từ 24 đến 28 tháng tù về tội „‟Mua bán trái phép chất ma t y‟‟, th i hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 17/02/2023. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng. Tịch thu tiêu huỷ phong bì thư niêm phong dán kín chứa mẫu vật còn lại sau giám định theo kết luận giám định số 518/KL-KTHS ngày 19/02/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B.

Ngư i bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn N là ông Nguyễn Việt K khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q truy tố bị cáo H, N về tội “Mua bán trái phép chất ma t y” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đ ng ngư i, đ ng tội, đ ng pháp luật. Ông K đồng tình với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ông K còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo là có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hơn nữa, bị cáo Hoàng Văn Nlà ngư i dân tộc thiểu số, nhân thức pháp luật hạn chế, gia đình có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ cận nghèo nên cho bị cáo N hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và khi xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất. Bị cáo N không có thu nhập hay tài sản riêng đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự cho bị cáo N

Bị cáo H, bị cáo N không bổ sung l i bào chữa của ngư i bào chữa và cũng không tham gia tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên. Các bị cáo chỉ xin hưởng mức hình phạt thấp nhất.

Căn cứ các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện đ ng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

L i khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với l i khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, ngư i làm chứng, kết quả giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xét đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 gi 15 ph t ngày 17/02/2023, tại khu M, phư ng P, thị xã Q, tỉnh B Hầu Văn H nh Hoàng Văn N bán hộ 0,0659 gam ma túy Heroine cho đối tượng tự khai là Nguyễn Văn P với giá 200.000 đồng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Ngoài ra H còn tàng trữ 0,1289 gam ma t y Heroine mục đích để bán kiếm l i. Như vậy H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 0,1948 gam ma túy Heroine, N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 0,0659 gam ma túy Heroine.

Các bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cáo trạng truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đ ng ngư i, đ ng tội, đ ng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này các bị cáo nhận thức, thấy được tác hại của ma tuý nhưng vì mục đích hám lợi nên các bị cáo đã bất chất pháp luật bán một lượng chất ma t y để kiếm lợi nhuận. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, coi thư ng pháp luật. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn. Hải có vai trò chính đi mua ma t y và nh Nam bán hộ ma t y, Nam có vai trò gi p sức cho Hải. Hải nh Nam bán hộ 01 gói ma t y, còn gói ma t y thu giữ trên ngư i Hải là của Hải để bán khi có ngư i hỏi mua. Nam khai nhận có bán hộ Hải 01 gói ma t y do Hải nh và hứa cho N ma t y để sử dụng. P khai nhận mua ma t y để về sử dụng cho bản thân. Ngoài số ma t y H nh N bán cho P, H còn tàng trữ 0,1289 gam ma t y Heroine mục đích để bán kiếm l i. Số ma t y Hi cất giữ để bán Nam không biết. Do vậy, H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 0,1948 gam ma túy Heroin, Nphải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 0,0659 gam ma túy Heroine.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Các bị cáo là ngư i có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Q a trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Văn N là ngư i dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, gia đình có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ cận nghèo nên cho bị cáo Nđược hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và khi xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất, miễn án phí hình sự cho bị cáo N

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án và các vấn đề có liên quan: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng.

- Đối với ngư i đàn ông đã bán ma tuý cho H, do H không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của ngư i này, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

- Đối với ngư i mua ma t y của Hải và N tự khai là Nguyễn Văn Psinh năm 1988; HKTT: Khu Lựa, phư ng V, thị xã Q, tỉnh B sau khi lấy l i khai lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Quá trình điều tra xác minh tại phư ng V xác định trên địa bàn không có đối tượng nào có thông tin như trên. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

- Quá trình điều tra xác định P dùng chiếc điện thoại di động màu đen không có nhãn hiệu, H dùng chiếc điện thoại di động 1280 màu đen để liên lạc mua bán ma t y với nhau. Khi bị bắt quả tang P và H đã ném điện thoại đi, cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng, đến nay chưa tìm thấy, khi nào tìm thấy sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Nam là ngư i dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo H phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51 (áp dụng khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo N); Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ( áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 đối với bị cáo N).

2. Tuyên bố bị cáo Hầu Văn H, Hoàng Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

3. Xử phạt bị cáo Hầu Văn H 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội „‟Mua bán trái phép chất ma t y‟‟, th i hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/02/2023. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 16/6/2023 để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

4. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội „‟Mua bán trái phép chất ma t y‟‟, th i hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/02/2023. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 16/6/2023 để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

5. Về vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng. Tịch thu tiêu huỷ phong bì thư niêm phong dán kín chứa mẫu vật còn lại sau giám định theo kết luận giám định số: 518/KL-KTHS ngày 19/02/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. (Theo biên bản giao vật chứng số 87, ngày 09/5/2023 giữa Công an thị xã Quế Võ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Q, tỉnh B).

6. Về án phí: Buộc bị cáo Hầu Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn N.

7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND, VKSND tỉnh B;

- VKSND thị xã Q

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

- CQĐT CA thị xã Q

- Trại TGCA tỉnh B

- CCTHADS thị xã Q;

- Ngư i tham gia tố tụng;

- Lưu HS, VP.

Nguyễn Thị Thu Hồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THỊ XÃ QUẾ VÕ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC NINH

Quế Võ, ngày 16 tháng 6 năm 2023

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Vào hồi …... gi …..ph t, ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại phòng Nghị án trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Thành Công; bà Ngô Thùy Phương.

Tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự xét xử sơ thẩm trực tuyến thụ lý số: 110/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo: Hầu Văn Hải, Hoàng Văn Nam phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các qui định của pháp luật.

Hội ồng

hảo luận, i u qu , qu

ịnh c c ấn củ n nhƣ s u:

I. V ội d nh: Tuyên bố bị cáo Hầu Văn Hải, Hoàng Văn Nam phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3.

II. V i u luậ p d ng: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51 (áp dụng khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Nam); Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ( áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 đối với bị cáo Nam).

Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3.

III. V hình phạ : Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51 (áp dụng khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Nam); Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ( áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 đối với bị cáo Nam).

Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3.

IV. C c ấn kh c: Về vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng. Tịch thu tiêu huỷ phong bì thư niêm phong dán kín chứa mẫu vật còn lại sau giám định theo kết luận giám định số: 518/KL-KTHS ngày 19/02/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. (Theo biên bản giao vật chứng số 87, ngày 09/5/2023 giữa Công an thị xã Quế Võ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh).

Về án phí: Buộc bị cáo Hầu Văn Hải phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn Nam.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3.

Nghị án kết th c vào …… gi …… phút cùng ngày, biên bản đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử nghe và ký tên.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Tô Thành Công - Ngô Thù Phƣơng

Ngu ễn Thị Thu Hồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN QUẾ VÕ

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

TỈNH BẮC NINH

Quế Võ, ngày 05 tháng 4 năm 2023

Số: 81/2023/LTX-TA

LỆNH TRÍCH XUẤT

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Căn cứ vào hồ sơ vụ án hình sự đã thụ lý số: 80/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2023;

Căn cứ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HS, ngày 05/4/2023;

Yêu cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện Quế Võ dẫn giải bị cáo sau đây đến phòng xét xử trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh vào hồi 07 gi 30 ph t, ngày 18 tháng 4 năm 2023.

Họ và tên bị cáo: Trần Văn Đáng, sinh năm 1989;

HKTT: Thôn Đa Cấu, phư ng Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do.

Con ông Trần Văn Sứ, bà Nguyễn Thị Cải.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh.

Bị truy tố theo bản Cáo trạng số: 43/CT-VKSQV ngày 21/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma t y” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Cỡ chữ