- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Hồng C, Phạm Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Cao Hồng C, Phạm Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2023/HS-ST Ngày: 17-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Dũng;
2. Ông Tống Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2023/TLST- HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Cao Hồng C, sinh năm 1986, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê H (đã chết) và bà Cao Thị V (đã chết); tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2022 cho đến nay. Có mặt.
2. Phạm Văn L, sinh năm 2001, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp P, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quốc B và bà Nguyễn Thị Ngọc D;
Nhân thân: Ngày 30/7/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về Tội Gây rối trật tự công cộng theo Bản án số 249/2018/HSST. Bị cáo chấp hành án từ ngày 27/7/2022 đến ngày 30/11/2022.
Tiền án; tiền sự: Không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2022 cho đến nay. Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Minh H và ông Nguyễn Quốc P. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 19/12/2022, Công an phường Tân Vĩnh Hiệp, thành phố Tân Uyên làm nhiệm vụ tuần tra, khi đến đoạn đường ĐX10 thuộc tổ 4, khu phố Hóa Nhựt, phường Tân Vĩnh Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, phát hiện Cao Hồng C đang điều khiển xe mô tô biển số 60B2-792.25 chở Phạm Văn L có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng lại kiểm tra thì phát hiện dưới đất ngay vị trí Phạm Văn L đang đứng có 01 khẩu trang y tế màu xanh bên trong có 02 túi nylon có chứa chất tinh thể màu trắng (C và L khai là ma tuý đá do L ném xuống) nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đồ vật liên quan gồm 02 gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô biển số 60B2-792.25; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A77S; 01 khẩu trang y tế màu xanh. Sau đó, Công an phường Tân Vĩnh Hiệp chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin từ Công an phường Tân Vĩnh Hiệp, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên tiến hành khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của Cao Hồng C và Phạm Văn L tại phòng số 3 nhà trọ Đ thuộc khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, tại thời điểm khám xét có mặt Cao Hồng C và Phạm Văn L. Qúa trình khám xét thu giữ gồm: 07 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 căn cước công dân tên Cao Hồng C; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 60B2-792.25
Qua làm việc, Cao Hồng C và Phạm Văn L khai nhận: Cao Hồng C và Phạm Văn L có mối quan hệ quen biết với nhau, sống chung phòng trọ, đều là đối tượng nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine). Để có tiền và ma túy sử dụng thì C liên hệ với đối tượng tên H (không rõ lai lịch) ở gần khu vực Bệnh viện An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thông qua mạng xã hội Zalo để mua ma túy. Sau khi mua ma túy thì đem về phòng trọ cùng L đi bán cho các đối tượng nghiện. Vào ngày 19/12/2022, C đã liên hệ với H mua 1.700.000 đồng tiền ma túy đá và đem về phòng trọ, sau đó C và L đã 04 lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện (không rõ lai lịch). Cụ thể: Lần thứ nhất vào khoảng 10 giờ 00 phút, C và L bán cho một nam thanh niên không rõ lai lịch tại khu vực chợ Hoà Lân, thành phố Thuận An với giá 200.000 đồng; Lần thứ hai vào khoảng 12 giờ 00 phút, C và L bán cho một nam thanh niên không rõ lai lịch tại khu vực chợ Phú Phong, phường Bình Chuẩn, thành phố Thuận An với giá 200.000 đồng; Lần thứ ba vào khoảng 20 giờ 00 phút, C và L bán cho một nam thanh niên không rõ lai lịch tại khu vực gần siêu thị Vincom, thành phố Biên hoà, tỉnh Đồng Nai với giá 400.000 đồng; Lần thứ tư vào khoảng 21 giờ 00 phút, C và L bán cho một nam thanh niên không rõ lai lịch tại khu vực đường D18, phường An Phú, thành phố Thuận An với giá 300.000 đồng.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, C được đối tượng (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo tên Davis liên hệ hỏi mua 600.000 đồng ma túy, địa điểm giao nhận ma túy tại đoạn đường ĐX10 khu phố Hóa Nhựt, phường Tân Vĩnh Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Sau đó, C lấy 02 gói nylon chứa ma túy cất giấu vào khẩu trang y tế màu xanh rồi giao cho L cất giữ, Cường sử dụng xe 60B2-792.25 do C đứng tên đăng ký chủ sở hữu chở L đi giao ma túy, trên đường đi thì bị Công an phường Tân Vĩnh Hiệp phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, số ma túy C và L bị thu giữ tại phòng trọ là do C và L mua về để bán cho các đối tượng nghiện nhằm thu lợi. Số tiền C và L thu được từ việc bán ma túy là 1.100.000 đồng, C và L đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân.
Bản kết luận giám định số 13/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3047 gam (M1); 0,9480 gam (M2).
Bản Cáo trạng số 129/CT-VKSTU ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Cao Hồng C, Phạm Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
+ Về trách nhiệm hình sự:
1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cao Hồng C từ 08 năm đến 09 năm tù.
2. Mặc dù bị cáo Phạm Văn L phạm tội khi chưa chấp hành xong đối với Bản án số 249/2018/HSST ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, tuy nhiên theo điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo thuộc trường hợp được coi là không có án tích. Do đó, tại phiên toà Kiểm sát viên rút 1 phần đối với yêu cầu áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn L. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Tổng hợp hình phạt chưa chấp hành xong đối với Bản án số 249/2018/HSST ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên;
Tịch thu, tiêu hủy 02 bì thư niêm phong, ký hiệu 13/PC09 (M1-M2) có chữ ký của người bị bắt Cao Hồng C, Phạm Văn L, người chứng kiến Nguyễn Minh H, Tô Ngọc H, cán bộ niêm phong Nguyễn Thành L, Lê Chí C; dấu đỏ của Công an phường Tân Vĩnh Hiệp, phường An Phú, thành phố Thuận An, dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa Methamphetamine theo kết luận giám định số 13/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động OPPO A77s; 01 xe mô tô Honda Vario biển số 60B2-792.25 màu trắng đỏ, số khung 4121LK122934, số máy KF41E2127049; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B2-792.25
Trả lại 01 căn cước công dân tên Cao Hồng C cho bị cáo Cao Hồng C.
Buộc bị cáo Cao Hồng C và Phạm Văn L liên đới nộp số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy là 1.100.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
- Các bị cáo Cao Hồng C, Phạm Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo Cao Hồng C, Phạm Văn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết luận giám định. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:
Cao Hồng C và Phạm Văn L đều là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng, vào ngày 19/12/2022, Cao Hồng C đã mua ma tuý của một đối tượng tên H không rõ lai lịch đem về phòng trọ cùng với Phạm Văn L bán lại cho các đối tượng nghiện để kiếm tiền lời. Ngày 19/12/2022, Cao Hồng C, Phạm Văn L đã 04 lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện (không rõ lai lịch) tại khu vực chợ Hòa Lân, khu vực phường Bình Chuẩn, phường An Phú thuộc thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương và khu vực gần siêu thị Vincom thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai với số tiền lần lượt từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng. Tổng số tiền thu được từ việc bán ma túy là 1.100.000 đồng.
Đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 19/12/2022, tại đoạn đường ĐX10 thuộc tổ 4, khu phố Hóa Nhựt, phường Tân Vĩnh Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, khi các bị cáo Cao Hồng C, Phạm Văn L tàng trữ 0,3047 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho 01 đối tượng nghiện không rõ lai lịch thì bị bắt quả tang.
Ngoài ra, tại phòng số 3 nhà trọ Đ thuộc khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương của bị cáo Cao Hồng C và Phạm Văn L thuê trọ còn tàng trữ 0,9480 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho các con nghiện khác.
Do đó, hành vi của bị cáo Cao Hồng C và Phạm Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố các bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước trong quản lý, sử dụng chất ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã vi phạm quy định về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ngoài ra hành vi của các bị cáo còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về đồng phạm: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó, vai trò của bị cáo C cao hơn bị cáo L. Do đó, khi quyết định hình phạt sẽ xem xét toàn diện về vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên được chấp nhận.
Về tổng hợp hình phạt: Bản án số 249/2018/HS-ST ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo Phạm Văn L 01 năm cải tạo không giam giữ về tội Gây rối trật tự công cộng, Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Định Mỹ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (nơi bị cáo thường trú) giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.
Tuy nhiên, sau khi Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ra quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ số 04/QĐ-CA ngày 24/8/2018. Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của Phạm Văn L theo biên bản xác minh ngày 03/10/2018; ngày 04/8/2020; ngày 20/4/2022 thì Phạm Văn L không có mặt tại nơi cư trú. Đến ngày 27/7/2022, Phạm Văn L quay về địa phương nơi cư trú, cùng ngày Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Thoại Sơn bàn giao hồ sơ thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Phạm Văn L cho Ủy ban nhân dân xã Định Mỹ, huyện Thoại Sơn và ra quyết định phân công cán bộ theo dõi thi hành án hình sự tại cộng đồng số 107/QĐ-CQTHAHS. Ngày 27/7/2022, Phạm Văn L bắt đầu chấp hành đối với bản án nêu trên.
Theo nội dung báo cáo số 04/BC-UBND ngày 12/01/2023 của Ủy ban nhân dân xã Định Mỹ, huyện Thoại Sơn về việc người chấp hành án hình sự tại cộng đồng vi phạm pháp luật có nội dung “Từ ngày 01/12/2022 đối tượng bỏ địa phương đi đâu không rõ, không trình báo về việc đi khỏi nơi cư trú tại Công an xã Định Mỹ”. Do đó, có căn cứ xác định thời gian chấp hành bản án nêu trên của Phạm Văn L bắt đầu từ ngày 27/7/2022 cho đến ngày 30/11/2022.
Như vậy, Bản án số 249/2018/HS-ST ngày 30/7/2018, bị cáo Phạm Văn L chỉ mới chấp hành được 04 tháng 03 ngày. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2018 đến ngày 27/6/2018 (Theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật hình sự cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ) là 54 ngày. Thời gian còn lại bị cáo Phạm Văn L còn phải chấp hành 06 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật hình sự thì 06 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ bằng 02 tháng 01 ngày tù.
Do vậy, cần phải tổng hợp hình phạt của bản án này với hình 02 tháng 01 ngày tù tại bản án số 249/2018/HS-ST ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để buộc bị cáo Phạm Văn L phải chấp hành hình phạt chung cho tất cả các bản án theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
+ Đối với 02 bì thư niêm phong, ký hiệu 13/PC09 (M1-M2) có chữ ký của người bị bắt Cao Hồng C, Phạm Văn L, người chứng kiến Nguyễn Minh H, Tô Ngọc H, cán bộ niêm phong Nguyễn Thành L, Lê Chí C; dấu đỏ của Công an phường Tân Vĩnh Hiệp, phường An Phú, thành phố Thuận An, dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa Methamphetamine theo kết luận giám định số 13/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 điện thoại di động OPPO A77s; 01 xe mô tô Honda Vario biển số 60B2-792.25 màu trắng đỏ, số khung 4121LK122934, số máy KF41E2127049; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B2-792.25 thu giữ của bị cáo C. Bị cáo khai nhận sử dụng điện thoại để trao đổi, giao dịch mua bán ma tuý, sử dụng xe mô tô để đi mua, bán ma tuý. Do đó cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
+ Đối với 01 căn cước công dân tên Cao Hồng C không liên quan đến vụ án, do đó cần trả lại cho Cao Hồng C.
+ Buộc bị cáo C và L nộp số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy là 1.100.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với đối tượng bán ma túy cho các bị cáo, hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.
Đối với các đối tượng mua ma túy của các bị cáo, hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên tiếp tục điều tra xác minh làm rõ và xử lý sau.
Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Cao Hồng C, Phạm Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
1. Về hình phạt:
1.1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Cao Hồng C 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2022.
1.2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 36; Điều 55; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 02 (Hai) tháng 01 (Một) ngày tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án hình sự sơ thẩm số 249/2018/HS-ST ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 07 (Bảy) năm 08 (Tám) tháng 01 (Một) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2022.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 bì thư niêm phong, ký hiệu 13/PC09 (M1-M2) có chữ ký của người bị bắt Cao Hồng C, Phạm Văn L, người chứng kiến Nguyễn Minh H, Tô Ngọc H, cán bộ niêm phong Nguyễn Thành L, Lê Chí C; dấu đỏ của Công an phường Tân Vĩnh Hiệp, phường An Phú, thành phố Thuận An, dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa Methamphetamine theo kết luận giám định số 13/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động OPPO A77s; 01 xe mô tô Honda Vario biển số 60B2-792.25 màu trắng đỏ, số khung 4121LK122934, số máy KF41E2127049; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B2-792.25.
- Trả lại cho bị cáo Cao Hồng C 01 căn cước công dân tên Cao Hồng C.
- Buộc bị cáo Cao Hồng C và Phạm Văn L liên đới nộp 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương)
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Cao Hồng C, Phạm Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - PV06, Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Công an thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Bị cáo; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đậu Thị Loan |