- Tranh chấp gì? án hình sự — "BC Nguyễn Thị T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G TỈNH KIÊN GIANG ----------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2023/HS-ST Ngày: 05 - 07 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH KIÊN GIANG
[- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Ngọc Thi
2. Bà Lê Thị Mỹ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Đạm - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2023/TLST-HS, ngày 26 tháng 05 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 06 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 30/2023/HSST-QĐ ngày 26/06/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T, sinh ngày 01/01/1981. Tại Châu Phú, tỉnh An Giang. Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Số 10/24 đường T2, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông Nguyễn Văn Út (Đã chết) và bà Nguyễn Thị N; Chồng: Lê Minh H, sinh năm 1978; Con có 03 người: Lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang được tại ngoại.
Bị cáo có mặt tại phên tòa.
* Người làm chứng:
- Huỳnh M, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 10/24 đường T, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Lâm Thị H, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 10/10/1 đường T, phường L, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không có việc làm ổn định và cần có tiền tiêu xài nên từ đầu tháng 12 năm 2022, Nguyễn Thị T bắt đầu bán số đề và tự làm chủ lô đề tại 10/17 Cao Thắng, phường Vĩnh Lợi, thành phố G bằng hình thức bán trực tiếp, bán thông qua tin nhắn điện thoại và tin nhắn Zalo; bình quân mỗi ngày T bán số được thấp nhất từ 300.000 đồng, cao nhất hơn 10.000.000 đồng (ngày bị bắt quả tang), quá trình bán số đề T đã thu lợi bất chính khoảng 1.000.000 đồng với 06 hình thức, cụ thể như sau:
(1) Số đầu (ký hiệu là A trong phơi đề), kết quả ăn thua dựa vào giải tám (đài Miền Nam) và giải bảy (đài Miền Bắc), người mua đề mua 1.000 đồng thì phải trả cho người bán 1.000 đồng (đối với các đài Miền Nam); mua 1.000 đồng phải trả cho người bán 5.000 đồng (đối với đài Miền Bắc); tỷ lệ ăn thua 1/80 (người mua 1.000 đồng nếu trúng được 80.000 đồng).
(2) Số đuôi (ký hiệu là B trong phơi đề), kết quả ăn thua dựa vào 02 số cuối của giải đặc biệt; người mua đề mua 1.000 đồng thì phải trả cho người bán 1.000 đồng; tỷ lệ ăn thua 1/80 (người mua 1.000 đồng nếu trúng được 80.000 đồng).
(3) Bao lô 02 con (ký hiệu là Lô trong phơi đề), kết quả ăn thua dựa vào 02 con số cuối của tất cả các giải; người mua 1.000 đồng phải trả cho người bán 15.000 đồng (đối với các đài Miền Nam), 24.000 đồng (đối với các đài Miền Bắc); tỷ lệ ăn thua 1/80 (người mua 1.000 đồng nếu trúng được 80.000 đồng).
(4) Bao lô 03 con (ký hiệu là Lô trong phơi đề), kết quả ăn thua dựa vào 03 con số cuối của tất cả các giải; người mua 1.000 đồng phải trả cho người bán 15.000 đồng (đối với các dài Miền Nam, Miền Trung), 20.000 đồng (đối với các đài Miền Bắc), tỷ lệ ăn thua 1/600 (người mua 1.000 đồng nếu trúng được 600.000 đồng).
(5) Xỉu chủ (ký hiệu là X trong phơi đề), kết quả ăn thua dựa vào 03 số cuối của giải bảy (đài Miền Nam); người mua 1.000 đồng phải trả cho người bán 2.000 đồng; tỷ lệ ăn thua 1/600 (người mua 1.000 đồng nếu trúng được 600.000 đồng).
(6) Số đá xiên (ký hiệu là Đá Xiên trong phơi đề); cách chơi là người mua chọn 02 cặp số; người mua 1.000 đồng phải trả cho người bán 30.000 đồng (nếu mua đá 01 đài), trả cho người bán 70.000 đồng (nếu mua đá 02 đài); trả cho người bán 210.000 đồng (nếu mua đá cả 03 đài). Kết quả ăn thua dựa vào 18 dãy số của đài Miền Nam hoặc 27 dãy số của đài Miền Bắc, khi cả 02 cặp số trùng với 02 số cuối bất kỳ trong 18 dãy số của đài Miền Nam hoặc 27 dãy số của đài Miền Bắc thì người mua số trúng); tỷ lệ ăn thua 1/600 (người mua 1.000 đồng nếu trúng được 600.000 đồng).
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19/12/2022, khi T đang cộng phơi đề tại 10/17 Cao Thắng, phường Vĩnh Lợi, thành phố G thì bị Công an phường Vĩnh Lợi bắt quả tang, thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus. Qua kiểm tra điện thoại của bị cáo T phát hiện trong mục hình ảnh có 04 phơi đề, 03 tấm giấy có ghi các con số của người mua số gửi qua tin nhắn, zalo. Thời điểm bị bắt quả tang (đã xổ số), bị cáo T đã bán số đề với hình thức số đầu, số đuôi, bao lô 02 con, bao lô 03 con, số đá, xỉu chủ đối với 03 dài Miền Nam gồm: Đồng Tháp, Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh; 02 đài Miền Trung gồm Phú Yên và Huế với tổng số tiền ghi trên các phơi đề và tin nhắn điện thoại là 10.815.000 đồng (mười triệu tám trăm mười lăm nghìn đồng), trong đó số tiền bán số đầu là 5.225.000 đồng, số tiền bán số đuôi là 1.820.000 đồng, số tiền bán số bao lô 02 con là 2.295.000 đồng, số tiền bán số bao lô 03 con là 15.000 đồng; số tiền bán số đá là 1.140.000 đồng; số tiền bán số xỉu chủ là 20.000 đồng, (bút lục 85-94).
Đối chiếu với kết quả xổ số ngày 19/12/2022, người mua trúng 5.240.000 đồng. Trong đó: số tiền trúng số đuôi đài Cà Mau (số 04) số tiền 1.600.000 đồng; trúng số bao lô 02 con đài Đồng Tháp (số 53, 57, 74, 85) số tiền 880.000 đồng; bao lô hai con đài Cà Mau (số 54, 62) số tiền 880.000 đồng; bao lô 02 con đài thành phố Hồ Chí Minh (số 53, 57, 58) số tiền 400.000 đồng; số tiền trúng số đá xiên ba đài Đồng Tháp - Cà Mau - thành phố Hồ Chí Minh (số 58-85) số tiền 300.000 đồng; đài Phú Yên (số 10-10; 01-11) số tiền 1.200.000 đồng; đài Phú Yên – Huế (số 51-59) số tiền 300.000 đồng, (bút lục 57-63).
Qua điều tra xác định được những người có tham gia mua số đề của bị cáo T như sau: Ngày 19/12/2022, bà Huỳnh M, sinh năm 1984, cư trú tại 10/12 Cao Thắng, phường Rạch Sỏi, thành phố G mua số đề dùm cho người tên T (chưa rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 3.660.000 đồng; bà Lâm Thị H, sinh năm 1970, cư trú tại 10/10/1 Cao Thắng, phường Vĩnh Lợi, thành phố G mua số đề dùm cho người phụ nữ đến mua bánh của bà Hoa (không rõ nhân thân, lai lịch), số tiền 3.210.000 đồng. Những người mua số đề của T nêu trên đều không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc; số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G đã chuyển cho đơn vị có thẩm quyền xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/02/2023, Nguyễn Thị T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G khởi tố và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
* Vật chứng trong vụ án:
- 07 (bảy) phơi đề trong đó có ghi các con số, tất cả đều có chữ ký xác nhận mang tên Nguyễn Thị T.
- 01 (một) điện thoại Iphone 6, số seri F2LVX5YXHFM4, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị T khi bắt quả tang.
- Tiền Việt Nam 11.109.000 đồng (mười một triệu một trăm lẻ chín nghìn đồng), (trong đó số tiền bán số đề có được ngày 19/12/2022 khoảng 10.000.000 đồng và thu lợi bất chính từ việc bán số đề của các ngày trước), (bút lục 19, 20-22).
* Theo bản cáo trạng số: 120/CT.VKSRG ngày 24/05/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra Công an thành phố G và bản cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị T hình thức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: 07 (bảy) phơi đề trong đó có ghi các con số, tất cả đều có chữ ký xác nhận mang tên Nguyễn Thị T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G đã đưa vào hồ sơ vụ án (bút lục 25-32).
- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố hình sự, đề nghị tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại Iphone 6, số seri F2LVXSYXHFM4, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị T khi bắt quả tang.
- Tiền Việt Nam 11.109.000 đồng (mười một triệu một trăm lẻ chín nghìn đồng).
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 86/QĐ-VKS ngày 24/05/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang).
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Nguyễn Thị T bắt đầu đánh bạc từ tháng 12/2022 bằng hình thức bán số đề và tự làm chủ lô đề tại địa chỉ 10/17 đường Cao Thắng, phường Vĩnh Lợi, thành phố G, tỉnh Kiên Giang, bình quân mỗi ngày T bán số thấp nhất được từ 1.000.000 đồng, cao nhất 10.000.000 đồng, thu lợi bất chính từ việc bán số là 1.000.000 đồng. Ngày 19/12/2022, T bán số đề cho nhiều người bằng hình thức số đầu, số đuôi, bao lô 02 con, bao lô 03 con, xỉu chủ, số đá với tổng số tiền 16.055.000 đồng (trong đó tiền bị cáo bán số đề là 10.815.000 đồng, tiền người mua đề trúng là 5.240.000 đồng). Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày khi T đang cộng phơi đề thì bị Công an phường Vĩnh Lợi bắt quả tang cùng các tang vật.
Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo cũng nhận thức được rằng hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật. Bị cáo chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài phục vụ nhu cầu cá nhân mà không cần phải lao động nên bị cáo đã nảy sinh tư tưởng thu lợi bất chính, từ đó bất chấp lao vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, không những xâm phạm trật tự công cộng mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Qua xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; cho thấy bị cáo có nhân thân tốt được thể hiện bị báo chưa có tiền án, tiền sự, do đó không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà nên phạt bị cáo với hình thức phạt tiền để bị cáo biết ăn năn hối cải đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo lao động lương thiện để sinh sống nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: 07 (bảy) phơi đề trong đó có ghi các con số, tất cả đều có chữ ký xác nhận mang tên Nguyễn Thị T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G đã đưa vào hồ sơ vụ án (bút lục 25-32).
- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố hình sự, đề nghị tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại Iphone 6, số seri F2LVXSYXHFM4, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị T khi bắt quả tang.
- Tiền Việt Nam 11.109.000 đồng (mười một triệu một trăm lẻ chín nghìn đồng).
Theo bản luận tội mà Viện Kiểm sát thành phố G đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
- Đối với hành vi đánh bạc của bà Lâm Thị H, Huỳnh M không đủ định lượng để xử lý hình sự về tội đánh bạc, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Rạch Giá chuyển cho công an phường Rạch Sỏi xem xét xử phạt vi phạm hạnh chính theo quy định pháp luật. Đối với người có hành vi mua số đề của bị cáo Tiền hiện không xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T nộp 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) vào Ngân sách Nhà nước. (Đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá theo biên lai thu tiền số 0007480 ngày 05/07/2023).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố hình sự, đề nghị tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại Iphone 6, số seri F2LVXSYXHFM4, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị T khi bắt quả tang.
- Tiền Việt Nam 11.109.000 đồng (mười một triệu một trăm lẻ chín nghìn đồng). (Theo giấy nộp tiền ghi ngày 21/04/2023).
(Tất cả theo Quyết định chuyển vật chứng số 86/QĐ-VKS ngày 24/05/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/07/2023). * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát cùng cấp; - Cơ quan THA Dân sự Tp.G; - Công an thành phố G; - Bị cáo, người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thùy Linh |