- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2023/HS-ST Ngày: 26-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Kim Thành, bà Vương Thị Minh Tân.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2023/TLST-HS ngày 20-3-2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST-HS ngày 11-4-2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H - sinh năm 1994 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Số 942 đường V, xã N, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 10, xã H, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị H; có vợ Bùi Thị Thu H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10-4-2014 Công an thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính hình thức phạt tiền 500.000 đồng về hành vi "Đánh nhau". Ngày 10-6-2016 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định ra Quyết định đình chỉ vụ án hình sự về tội "Cố ý gây thương tích"; bị tạm giữ từ ngày 12-12-2022, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 21-12-2022 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Anh Lư Tuấn M, anh Vũ Đại P (không triệu tập tới phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 12-12-2022, Tổ công tác Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 30 đường V, xã N, thành phố Nam Định phát hiện Nguyễn Văn H đang điều khiển xe máy biển kiểm soát B1-19514 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác đã thu giữ trong túi áo khoác bên phải của H đang mặc 01 túi nilong màu trắng có kích thước khoảng (1,5 x 1,5) cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (H khai là gói ma túy tổng hợp dạng đá mục đích mang đi để bán kiếm lời). Tổ công tác đã thu giữ, tiến hành niêm phong vật chứng ký hiệu M, đưa H và mời người làm chứng về trụ sở Công an thành phố Nam Định lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Tổ công tác còn tạm giữ của H 01 xe máy biển kiểm soát B1-19514; 01 điện thoại di động màu đen trắng bị rạn vỡ màn hình và số tiền 500.000 đồng.
Bản Kết luận giám định số 1871/KL-KTHS ngày 14-12-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (1,5 x 1,5) cm trong phong bì được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu: 0,462 gam (không phẩy bốn sáu hai gam).
Tại Cơ quan Điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để bán kiếm lời và khai nhận về nguồn gốc gói ma túy như sau: Khoảng 17 giờ ngày 12-12-2022, H đang ở nhà thì có một nam thanh niên (không biết lai lịch, địa chỉ) gọi điện thoại vào số thuê bao 0948786194 lắp trong chiếc điện thoại di động màu đen trắng của H và hỏi mua của H 500.000 đồng ma túy tổng hợp dạng đá. H đồng ý và hẹn gặp nam thanh niên ở cổng chùa B, đường V, xã N, thành phố Nam Định. Sau đó, H điều khiển xe máy biển kiểm soát B1-19514 một mình từ nhà đến khu vực đường L, phường C, thành phố Nam Định gặp và mua của một người đàn ông tên H (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói ma túy tổng hợp dạng đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cầm gói ma túy cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy đi đến chỗ hẹn để bán gói ma túy cho khách. Khi H đi đến khu vực trước cửa số nhà 30 đường V, xã N, thành phố Nam Định (H chưa gặp khách mua ma túy) thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên. Ngoài ra, H khai không lưu số điện thoại của người khách hỏi mua ma túy, sau khi nói chuyện với khách đã xóa hết lịch sử cuộc gọi tại điện thoại nên không nhớ thông tin liên lạc của người khách hỏi mua ma túy.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N đã phối hợp với Công an phường C, thành phố N xác minh đối tượng tên Hòa theo lời khai của Nguyễn Văn H là người đã bán ma túy cho H. Kết quả xác minh: Tại khu vực đường L, phường C, thành phố N không có người nào tên H có đặc điểm nhận dạng như lời khai của H.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N ra Quyết định trưng cầu giám định: Trích xuất, phục hồi dữ liệu lịch sử cuộc gọi trong chiếc điện thoại di động màu đen trắng đã vỡ màn hình lắp sim số thuê bao 0948786194 của Nguyễn Văn H. Bản Kết luận giám định số 428/KL-KTHS ngày 03-02-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Không trích xuất, phục hồi được dữ liệu lịch sử cuộc gọi trong mẫu cần giám định.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N đã có văn bản gửi Ban Kiểm tra - Pháp chế thanh tra Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam đề nghị cung cấp dữ liệu cuộc gọi đến số thuê bao 0948786194 vào khoảng thời gian từ 16 giờ 30 phút đến 18 giờ ngày 12-12-2022 nhưng chưa có kết quả trả lời nên tách ra để xử lý sau.
Bản Cáo trạng số 101/CT-VKS-TPNĐ ngày 20-3-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn H xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận biết rõ hành vi mua ma túy ma túy về để bán kiếm lời là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do hám lợi nên đã tàng trữ với mục đích bán kiếm lời. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động màu đen trắng bị rạn vỡ màn hình. Trả lại bị cáo chiếc xe máy biển kiểm soát B1-19514 và số tiền 500.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng; bản Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 12-12-2022, tại khu vực trước cửa số nhà 30 đường V, xã N, thành phố N, Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,462 gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ để bán kiếm lời là 0,462 gam. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được H tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là đối tượng có nhân thân xấu.
Về hình phạt: Xét bị cáo Nguyễn Văn H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xử phạt mức hình phạt đối với bị cáo ở mức thấp hơn đề xuất của của Viện kiểm sát là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để bán kiếm lời nên Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy trong phong bì niêm phong số 1871/KL-KTHS là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động màu đen trắng, màn hình bị rạn vỡ (đã cũ) là phương tiện bị cáo Nguyễn Văn H sử dụng để trao đổi việc mua bán ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. 01 xe máy biển kiểm soát B1-19514 và số tiền 500.000 đồng là tài sản của bị cáo Nguyễn Văn H, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo, song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Văn H và đối tượng hỏi mua ma túy của Nguyễn Văn H, do chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Nam Định đã tách ra để tiếp tục điều tra xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12 tháng 12 năm 2022.
2. Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 5.000.000 đồng.
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 1871/KL-KTHS. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động màu đen trắng, màn hình bị rạn vỡ (đã cũ). Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 xe máy biển kiểm soát B1-19514 và số tiền 500.000 đồng, song tạm giữ để đảm bảo thi hành án (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17-3-2023).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Toà án ND.Tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát NDTP.N (02 bản); - Công an TP.N; - Chi cục Thi hành án dân sự TP.N; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nguyên |