- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lý Ngọc S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Ngọc S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2023/HS-ST Ngày: 09/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lã Văn Luật
2. Ông Nguyễn Hữu Hoan
Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Hoàng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại nhà văn hóa tổ 08, phường Sông Bằng, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2023/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:
Lý Ngọc S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/7/1978 tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm 7 Bế Triều, thị trấn N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12 phổ thông; Con ông: Lý Ngọc Đ (đã chết); Con bà: Dương Thị N - sinh năm 1948 (trú tại: Xóm 7 Bế Triều, thị trấn N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng); Anh, chị, em ruột: Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình; Vợ: Lương Thị T - sinh năm 1979 (trú tại: Xóm 7 Bế Triều, thị trấn N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng); Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2010.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 03/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà giam giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lý Ngọc H - sinh năm 1999;
Trú tại: Xóm 7 Bế Triều, thị trấn N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 05 phút ngày 03/4/2023 tại khu vực tổ 10, phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Tổ công tác Công an phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng bắt quả tang Lý Ngọc S (Sinh năm 1978; hộ khẩu thường trú: Xóm 7 Bế Triều, thị trấn N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (Sơn khai nhận là Heroine) được thu giữ trong túi áo khoác bên trái Lý Ngọc S đang mặc có khối lượng 0,18g (không phẩy mười tám gam); 01 xe mô tô màu đen nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 11H1 - 302.22, xe cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước có chữ MASSTEL, có số IMEI 352377077161160 điện thoại cũ, đã qua sử dụng.
Ngày 04 tháng 4 năm 2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 122 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 184/KL-KTHS ngày 11/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: "Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin)".
Số ma túy bị phát hiện thu giữ của Lý Ngọc S, bị cáo khai nhận mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác.
Hành vi của bị cáo đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số: 110/CT-VKSTP ngày 18/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lý Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Lý Ngọc S có một số lời khai chưa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được cơ quan điều tra thu thập như thời gian bị bắt, mục đích xuống thành phố Cao Bằng sau khi mua được ma túy. Tuy nhiên bị cáo thừa nhận hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ và nội dung bản kết luận giám định số: 184/KL-KTHS ngày 11/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Bị cáo khai nhận: Chiếc điện thoại di động màu đen mặt trước và sau có chữ MASSTEL bị cáo mua để sử dụng hàng ngày và liên lạc với người thân, không sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy. Chiếc xe mô tô màu đen nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 11H1 - 302.22 là của Lý Ngọc H là con của bị cáo, việc bị cáo sử dụng để đi mua bán ma túy Lý Ngọc H không biết. Hiện nay chiếc xe đã được trả cho Lý Ngọc H, vì vậy bị cáo không có ý kiến gì khác. Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bản thân.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lý Ngọc H tại cơ quan điều tra liên quan đến chiếc xe mô tô màu đen nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 11H1 - 302.22 phù hợp với lời khai của bị cáo, Hoàng không biết bị cao sử dụng xe mô tô làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, ông Lý Ngọc H vắng mặt nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt ông Hoàng xác nhận đã nhận lại chiếc xe trên và không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo.
Đối với bị cáo Lý Ngọc S đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Lý Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Lý Ngọc S từ 13 (mười ba) tháng tù đến 16 (mười sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "số 184/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Lý Ngọc S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy" do không còn giá trị sử dụng.
- Hoàn trả lại cho bị cáo Lý Ngọc S 01 (một) điện thoại di động màu đen mặt trước có chữ Masstel, có số IMEI: 352377077161160 điện thoại cũ đã qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm quay trở về với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lý Ngọc S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định được: Khoảng 18 giờ ngày 03/4/2023 Lý Ngọc S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen, biển kiểm soát 11H1 - 302.22 mượn của Lý Ngọc H đi từ nhà đến khu vực Cầu Khanh thuộc Xóm 3, Bế Triều, thị trấn N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây bị cáo gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) nhìn giống người nghiện nên hỏi mua được 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa Heroine với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Bị cáo cất gói ma túy thu được vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực thuộc phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng tìm chỗ sử dụng thì bị công an bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo hành về vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về hình phạt chính: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lý Ngọc S từ 13 (Mười ba) tháng tù đến 16 (mười sáu) tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma túy (heroine), không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Trong vụ án này bị cáo Lý Ngọc S được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng là tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- Cần xử tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong theo quy định, mặt trước ghi: "Số 184/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Lý Ngọc S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy". (Kèm theo Kết luận giám định số 184/KL-KTHS ngày 11/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng);
- Hoàn trả lại cho bị cáo Lý Ngọc S 01 (một) điện thoại di động màu đen, loại bàn phím, mặt trước có chữ Masstel, có số IMEI: 352377077161160, điện thoại cũ đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đen, biển kiểm soát 11H1-302.22 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Lý Ngọc H, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải.
. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, Lý Ngọc S khai được mua với một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ. Việc trao đổi không ai biết, chứng kiến nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý trong vụ án khác.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Ngọc S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Lý Ngọc S 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 03/4/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong theo quy định, mặt trước ghi: "Số 184/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Lý Ngọc S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy", kèm theo Kết luận giám định số 184/KL-KTHS ngày 11/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng;
- Hoàn trả lại cho bị cáo Lý Ngọc S 01 (một) điện thoại di động màu đen, loại bàn phím, mặt trước có chữ Masstel, có số IMEI: 352377077161160 điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 135 ngày 08/8/2023 .
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc bị cáo Lý Ngọc S phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ;; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Xuân Huy |