- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan thị cẩm T"
- Tòa quyết gì? Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của TAND Tối cao và Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP Của Hội đồng Thẩm phán Toà án…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 212/2023/HNGĐ – ST Ngày: 28 – 12 – 2023 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thành Thật;
2. Bà Phan Thị Yến.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh A tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 499/2023/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 582/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 504/2023/QĐST- HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị Cẩm T, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Số 54/2, ấp PT, trị trấn PH, huyện TS, tỉnh A.
Bị đơn: Ông Huỳnh Minh Thuận E, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Số 27/1, khóm HT, phường MT, thành phố L, tỉnh A.
(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông Thuận E vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phan Thị Cẩm T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Phan Thị Cẩm T và ông Huỳnh Minh Thuận E kết hôn năm 2019, hôn nhân tự nguyện lần thứ nhất của cả hai, có đăng ký kết hôn ngày 21/02/2019 tại Ủy ban nhân dân phường MT, thành phố L, tỉnh A. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà ba mẹ ruột của bà T đến tháng 5 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, ông Thuận E không phụ tiếp kinh tế gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, thời gian ly thân đã lâu nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Thuận E.
Về quan hệ con chung:
Vợ chồng có 01 (một) con chung tên Huỳnh Gia K, sinh ngày 06/8/2020, bà T đang trực tiếp nuôi con. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là Huỳnh Gia K và yêu cầu ông Thuận E cấp dưỡng cho con chung theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Huỳnh Minh Thuận E không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:
Bà T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ngày 23/10/2023.
Ông Thuận E vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo qui định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ngày 23/10/2023. Ông Thuận E không có ý kiến trình bày và vắng mặt trong quá trình tố tụng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông Thuận E là đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Cẩm T đối với ông Huỳnh Minh Thuận E.
Về con chung:
Do con chung của bà T và ông Thuận E là cháu Huỳnh Gia K, sinh ngày 06/8/2020 hiện nay đang sống với mẹ. Bà T có yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung, ông Thuận E không có ý kiến về con chung. Để đảm bảo ổn định về tinh thần, đảm bảo về quyền lợi về mọi mặt cho con chung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà T.
Về chi phí cấp dưỡng nuôi con:
Bà T yêu cầu ông Thuận E cấp dưỡng cho con chung chưa thành niên là cháu Huỳnh Gia K theo quy định pháp luật. Đề nghị hội đồng xét chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà T.
Về tài sản chung và nợ chung:
Bà T trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Tranh chấp giữa bà Phan Thị Cẩm T và ông Huỳnh Minh Thuận E là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý giải quyết.
Bị đơn ông Huỳnh Minh Thuận E có hộ khẩu thường trú tại số 27/1, khóm HT, phường MT, thành phố L, tỉnh A. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý giải quyết.
Sau khi nhận được quyết định hoãn phiên tòa, bà T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ngày 23/10/2023. Ông Thuận E không có ý kiến trình bày và vắng mặt trong quá trình tố tụng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông Thuận E là đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Phan Thị Cẩm T và ông Huỳnh Minh Thuận E tự nguyện tìm hiểu nhau, kết hôn năm 2019, hôn nhân tự nguyện lần thứ nhất của cả hai, có đăng ký kết hôn ngày 21/02/2019 tại Ủy ban nhân dân phường MT, thành phố L, tỉnh A. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà ba mẹ ruột đến tháng 5 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, ông Thuận E không phụ tiếp kinh tế gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được thời gian ly thân đã lâu nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Thuận E. Phía bị đơn được Tòa án nhiều lần niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông Thuận E. Tuy nhiên, ông Thuận E vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của bà T và không đến tham gia hòa giải. Như vậy, ông Thuận E đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đồng nghĩa với việc ông không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng động viên bà T và tạo thêm thời gian để vợ chồng ông bà có cơ hội để hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, bà T vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn vì từ khi vợ chồng ly thân đến nay ông Thuận E không đến thăm nom con chung, không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó, có thể nhận thấy tình cảm của ông Thuận E dành cho vợ không còn, tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của ông bà đã trầm trọng. Sau khi nhận được quyết định hoãn phiên tòa, bà T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ngày 23/10/2023. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà T và ông Thuận E không đạt được, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn với ông Thuận E.
Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung tên Huỳnh Gia K, sinh ngày 06/8/2020 hiện nay đang sống với bà T. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và yêu cầu ông Thuận E cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Lời khai của bà T phù hợp với bản sao giấy khai sinh số 269 ngày 13/8/2020 do UBND phường MT, thành phố L. Xét thấy, thời gian qua cháu Huỳnh Gia K được bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Để ổn định đời sống cho cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của nguyên đơn. Bà T và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông Thuận E được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
Về cấp dưỡng nuôi con, đây là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Để đảm bảo cho điều kiện học tập, sinh sống của cháu K, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình, Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của TANDTC và Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 để quyết định mức cấp dưỡng buộc ông Huỳnh Minh Thuận E phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng bằng ½ tháng lương cơ sở là 900.000đ, thực hiện từ ngày 28/12/2023 đến khi con chung trưởng thành. Mức cấp dưỡng sẽ được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy định.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do bị đơn ông Thuận E cũng không có ý kiến về việc phân chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này, các bên phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí:
Bà Phan Thị Cẩm T phải nộp án phí Hôn nhân sơ thẩm theo qui định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 179; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của TAND Tối cao và Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Cẩm T. Bà Phan Thị Cẩm T được ly hôn với ông Huỳnh Minh Thuận E.
2. Về con chung:
Bà Phan Thị Cẩm T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Huỳnh Gia K, sinh ngày 06/8/2020.
Ông Huỳnh Minh Thuận E cấp dưỡng nuôi con chung là 900.000 đồng/tháng. Mức cấp dưỡng sẽ được điều chỉnh theo từng thời điểm do pháp luật quy định.
Bà T cùng các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện cho ông Thuận E được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí:
Bà Phan Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà T đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002239 ngày 26/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, bà T đã nộp đủ án phí.
Ông Huỳnh Minh Thuận E phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND TP. L; - THADS TP. L; - UBND phường MT, thành phố L, tỉnh A; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Minh Trang |