- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thị Ng- Danh K"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Ng.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Cao Thị Ng; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19/9/2023. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Thị Xà Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 278/2023/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 6 năm 2023, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 71/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị Ng – sinh năm 1977, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: ấp Ch, xã T, huyện Đ, tỉnh B.
2. Bị đơn: Ông Danh K – sinh năm 1976, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/6/2023, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Cao Thị Ng như sau:
Bà và ông Danh K kết hôn vào năm 2019, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh B vào ngày 02/7/2019.
Sau khi cưới vợ chồng bà sống chung khoảng 01 tháng, bà ở Bình Phước còn ông K đi đâu làm gì bà không biết, hai bên không còn gặp nhau và cũng không có liên lạc với nhau từ tháng 9/2019 cho đến nay. Sau thời gian sống ly thân, bà xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không còn hàn gắn được nên bà yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Danh K.
Thời gian chung sống với nhau vợ chồng bà không có con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung.
Nguyện vọng:
Về quan hệ hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Danh K.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Danh K đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Danh K không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Danh K.
- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:
Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là không tuân thủ quy định của pháp luật, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Cao Thị Ng được ly hôn với ông Danh K. Về con chung, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Cao Thị Ng và ông Danh K là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Cao Thị Ng có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Cao Thị Ng không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Cao Thị Ng.
Ông Danh K là bị đơn trong vụ án, ông Danh K có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Danh K vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên, ngày 10 tháng 8 năm 2023, Tòa án làm việc với bà Thị Sách Tha, giữ chức vụ Trưởng ấp An Hòa, xã Vĩnh Phước B, huyện Gò Quao để xác minh về tình trạng hôn nhân và nơi cư trú của ông Danh K và bà Cao Thị Ng thì được bà Thị Sách Tha cho biết ông Danh K hiện vẫn còn hộ khẩu ở ấp An Hòa, xã Vĩnh Phước B, huyện Gò Quao nhưng ông Danh K hiện không có mặt tại địa phương, trong quá trình chung sống do bà Cao Thị Ng là người ở địa phương khác nên bà Tha không biết về mâu thuẫn của họ, về tài sản chung và nợ chung thì bà Tha cho biết không có ai tranh chấp nợ nần, tài sản gì với họ. Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết công khai theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Danh K vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Danh K.
Về hôn nhân: Bà Cao Thị Ng và ông Danh K cưới nhau vào năm 2019, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh B. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 48/2019, ngày 02/7/2019, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Cao Thị Ng và ông Danh K là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Cao Thị Ng và ông Danh K là hôn nhân tự nguyện nhưng ông bà chưa tìm hiểu rõ về cá tính của nhau nên khi sống chung ông bà phát sinh mâu thuẫn đã không tự giải quyết, hàn gắn được. Bà Cao Thị Ng cho rằng trước khi cưới hai bên không có tìm hiểu nhau nên vợ chồng bà sống chung không có tình cảm, ông K không quan tâm, không lo lắng cho bà. Sau khi cưới vợ chồng bà không sống chung khoảng 01 tháng, bà ở Bình Phước còn ông K đi đâu, làm gì bà không biết, hai bên không còn gặp nhau và cũng không liên lạc với nhau từ tháng 9/2019 cho đến nay. Ngày 05/7/2023 và ngày 27/7/2023, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Danh K vắng mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay yêu cầu nào của ông Danh K. Xét thấy, vợ chồng bà Cao Thị Ng và ông Danh K đã sống ly thân với nhau tính đến ngày xét xử là gần 04 năm. Trong thời gian này, ông Danh K không liện lạc với bà Ng, điều đó chứng minh ông Danh K không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và bà Ng không có ý định hàn gắn, cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Cao Thị Ng cương quyết xin ly hôn với ông Danh K và khẳng định không còn tình cảm yêu thương đối với ông Danh K, vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Cao Thị Ng.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Cao Thị Ng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Cao Thị Ng phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0000603, ngày 14/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Ng.
Về hôn nhân: Xử cho bà Cao Thị Ng và ông Danh K ly hôn với nhau.
Về con chung , tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Cao Thị Ng phải chịu nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0000603, ngày 14/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS Gò Quao; - Chi cục THA; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |