vanban.org

Bản án 112/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy D đối với anh Khưu Quốc P. Chị Phạm Thị Thùy D được ly hôn với anh Khưu Quốc P.

Về nuôi con: Giao cho chị D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Khưu Quốc Anh, sinh ngày 11-12-2017. Anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với số tiền 2.000.000 đồng/tháng từ tháng 9-2023 cho đến khi cháu Quốc Anh thành niên và có khả năng lao động, tự sin… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy D đối với anh Khưu Quốc P. Chị Phạm Thị Thùy D được ly hôn với anh Khưu Quốc P.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22-8-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Huy Cường

2. Bà Trần Thị Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đan Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 75/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thùy D, sinh năm 1982

Địa chỉ: Ô 1/31B, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh T.

- Bị đơn: Anh Khưu Quốc P, sinh năm: 1989

Địa chỉ: Ô 1/168A, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh T.

Chị D và anh P đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19-12-2022, bản tự khai và biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Phạm Thị Thùy D trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Khưu Quốc P chung sống với nhau từ năm 2010, có qua tìm hiểu trước, hôn nhân tự nguyện. Chị và anh P không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn G năm 2017.

Sau khi kết hôn, chị và anh P chung sống tại Ô1/31B, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh T được khoảng 03 năm thì anh chị ra ngoài thuê nhà ở. Đến năm 2020 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cải nhau, không tin tưởng nhau về mặt tình cảm và anh P cũng thừa nhận có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Tháng 02-2021, anh P thu dọn đồ đạc đi nơi khác ở nên chị và anh P cũng sống ly thân cho đến nay. Tình cảm vợ chồng giữa chị và anh P không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh P.

Về nuôi con: Chị và anh P có 01 người con chung tên Khưu Quốc A, sinh ngày 11-12-2017. Hiện cháu A đang ở cùng với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung, yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Chị và anh P chung sống không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh chị không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại anh chị nên chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Khưu Quốc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nộp cho Tòa án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thu ̣ lý vụ án cho đến trướ c thờ i điểm Hội đồng xét xử nghi ̣ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, chị D đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, còn anh P thì chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy D đối với anh Khưu Quốc P;

Về con chung: giao cho chị D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Khưu Quốc A, sinh ngày 11-12-2017. Anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị Thùy D có đơn xin vắng mặt, còn bị đơn anh Khưu Quốc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Phạm Thị Thùy D và anh Khưu Quốc P là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị D thì nguyên nhân là do anh chị không tin tưởng nhau về mặt tình cảm dẫn đến thường xuyên cải nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng giảm sút.

Qua xác minh bà Trần Thị Cóc – mẹ ruột anh P cung cấp: bà có nghe nói chị D và anh P cải nhau, từ năm 2021 anh P về nhà sống chung với bà, không còn chung sống với chị D. Do đó, chị D cho rằng chị và anh P sống ly thân từ năm 2021 đến nay là đúng sự thật. Từ khi chị D nộp đơn ly hôn đến nay, mặc dù có thông báo cho anh P biết và anh P đã được Tòa án triệu tập để thu thập chứng cứ, tham gia hòa giải và xét xử nhưng anh P vẫn vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị D và cũng không thể hiện thiện chí để đoàn tụ. Từ các chứng cứ trên cho thấy, mâu thuẫn của anh chị trở nên trầm trọng, anh P cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm nên mục đích hôn nhân không còn đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D đối với anh P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con:

Anh chị có 01 người con chung tên Khưu Quốc Anh, sinh ngày 11-12-2017. Hiện cháu Anh đang sống chung với chị D. Chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Xét yêu cầu của chị D thì thấy: Từ khi chị D và anh P sống ly thân, con chung do chị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Mặc dù hiện nay chị D không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nhưng anh P cũng không có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Do đó, Hội đồng xét xử cần giao cho chị D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu cấp dưỡng của chị D:

Hiện nay anh P đang làm công nhân tại Khu Công nghiệp P và có thu nhập ổn định. Tuy nhiên, chị D không chứng minh được thu nhập hàng tháng của anh P. Ngoài ra anh P còn sống chung và nuôi dưỡng cha mẹ ruột. Chị D yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng nhưng không có sự đồng ý của anh P. Hiện nay, mức lương cơ bản là 1.890.000 đồng/tháng. Do đó, nhằm đảm bảo điều kiện sinh sống của anh P cùng gia đình và điều kiện nuôi dưỡng cháu Quốc A nên Hội đồng xét xử cần buộc anh P cấp dưỡng nuôi cháu Anh với số tiền 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu A thành niên và có khả năng lao động, tự sinh sống được là phù hợp với quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Chị D khai không có, chị D và anh P đều không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

Về nợ chung: Chị D khai không có, chị D và anh P đều không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27, anh P phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định tại đ khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy D đối với anh Khưu Quốc P. Chị Phạm Thị Thùy D được ly hôn với anh Khưu Quốc P.

2. Về nuôi con: Giao cho chị D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Khưu Quốc Anh, sinh ngày 11-12-2017. Anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với số tiền 2.000.000 đồng/tháng từ tháng 9-2023 cho đến khi cháu Quốc Anh thành niên và có khả năng lao động, tự sinh sống được.

Anh P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu nên không giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà đã nộp theo biên lai thu số 0025214 ngày 22-02-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G. Chị D đã nộp đủ tiền án phí.

Anh P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ