vanban.org

Bản án 112/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 09/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Khánh D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Khánh D 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/6/2022. Biện pháp tư pháp: Truy thu bị cáo số tiền 190.000đ (một trăm chín mươi nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Khánh D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Khánh D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2022/HS-ST
Ngày 09-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Ninh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Nhật Chiến;

Ông Ma Thanh Trọng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Phượng, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng M, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Đặng Khánh D, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1996 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số *, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Công H và bà Nguyễn Cẩm Th; vợ , con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị cáo chưa lần nào bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2022, tạm giam từ ngày 17/6/2022 đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Văn Đ1, Luật sư Văn phòng luật sư Vũ Đáo, Đoàn luật sư tỉnh Lạng Sơn; địa chỉ: Số **, đường V, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Hoàng Thanh T; nơi cư trú: Số 10/292, đường Chu Văn An, phường V, thành phố L; vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Cẩm Th, sinh năm 1971; nơi cư trú: Số 55, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Đường Mạnh H1, sinh năm 1971; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 50 phút ngày 14/6/2022, Tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực đường P1, phường C, thành phố L đã kiểm tra, thu giữ của Hoàng Thanh T, sinh năm 1997, trú tại: số * đường A, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn là nhân viên giao hàng của nhóm “Lạng Sơn shipper” một hộp giấy màu xanh - trắng kích thước 11cm x 10,5cm x 05cm bên trong có 02 (hai) gói nilon chứa ma túy dạng thảo mộc khô đặt trong một miếng mút xốp hình chữ nhật có kích thước 10cm x 07cm x 04cm. Hoàng Thanh T khai báo chiếc hộp giấy trên nhận từ nam thanh niên không quen biết tại trước cửa quán Mixue Vincom thuộc khu đô thị Vinhomes, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, để vận chuyển cho khách, không biết bên trong chiếc hộp có đồ vật gì, đồng thời dẫn tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn đến trước nhà số * đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn gặp nam thanh niên đã đưa cho Hoàng Thanh T gói hàng, thì xác định là Đặng Khánh D, sinh năm 1996. Đặng Khánh D khai nhận đã đưa cho Hoàng Thanh T hộp giấy màu xanh - trắng, bên trong có 02 (hai) gói ma túy Cần sa cho người đàn ông tên M.

Tổ công tác đã tạm giữ của Đặng Khánh D, số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu kim loại bạc, máy cũ đã qua sử dụng, số imei: 358371060916502, lắp sim số 0868.980.195.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Khánh D, thu giữ:

+ 01 (một) vỏ hộp kính, màu xám, bằng vải, kích thước 17cm x 07cm x 4,5cm, bên trong chứa 03 (ba) túi nilon, có kích thước 4,5cm x 04cm. Trong mỗi túi đều chứa thảo mộc khô.

+ 01 (một) cân tiểu ly kích thước 7,5cm x 4,5cm, màu đen bạc;

+ 01 (một) bình thủy tinh màu trắng, có nắp, kích thước 24cm x 14cm, bên trong có chứa lá thảo mộc khô;

+ 20 (hai mươi) túi nilon, màu trong suốt, kích thước 4cm x 6cm, viền túi màu đỏ;

+ 01 (một) vỏ hộp kim loại hình trụ, ghi chữ British, có nắp, kích thước, có nắp kích thước 23,5cm x 9cm, bên trong có chứa lá thảo mộc khô;

+ 01 (một) túi nilon kích thước 25cm x 17cm, bên trong có chứa thảo mộc;

+ 02 (hai) túi nilon kích thước 4cm x 6 cm, bên trong có chứa thảo mộc;

+ 03 (ba) túi nilon, kích thước 6cm x 4cm, bên trong có chứa thảo mộc;

+ 01 (một) ba lô màu đen, có chữ “Adidas”.

Kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 16/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận thảo mộc khô trong 07 (bảy) phong bì gửi giám định là đều chất ma túy Cần sa, tổng khối lượng 39,095 gam (đã trừ bì);

Kết luận giám định số 311/KL-KTHS ngày 27/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) trong phong bì gửi giám định là tiền thật.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Khánh D khai nhận: Bản thân là người sử dụng ma túy Cần sa. Khoảng cuối năm 2021, Đặng Khánh D lấy một cây Cần sa ở bờ sông Kỳ Cùng về trồng trong chậu cây cảnh trên tầng 2 rồi lấy lá cây phơi khô cất giấu trong phòng ngủ để sử dụng và bán kiếm lời. Lúc 08 giờ 49 phút ngày 14/6/2022, Đặng Khánh D nhận được tin nhắn từ số điện thoại 0392.996.732 của nam thanh niên tự xưng tên M (không rõ tên tuổi, địa chỉ) đến số điện thoại 0332.802.929 của Đặng Khánh D đặt mua 02 (hai) gói ma túy Cần sa, hai bên thỏa thuận giá mua bán là 390.000 đồng. Do sợ bị phát hiện việc mua bán ma túy nên Đặng Khánh D gọi điện thoại đến số 0847779888 của tổng đài “Lạng Sơn shipper” để thuê giao hàng và báo địa điểm nhận hàng là tại quán trà sữa Mixue Vincom thuộc phường C, thành phố L. Khoảng 10 giờ ngày 14/6/2022, Hoàng Thanh T là nhân viên Shipper đến gặp Đặng Khánh D, tại địa điểm trên, Đặng Khánh D đưa cho Hoàng Thanh T một hộp giấy bên ngoài màu xanh-trắng bên trong đựng hai gói ma túy Cần sa và Hoàng Thanh T ứng ra 390.000 đồng tiền đơn hàng trả trước cho Đặng Khánh D và sẽ nhận lại số tiền cùng với 10.000 đồng tiền công vận chuyển khi giao được hàng cho khách là M. Địa điểm giao hàng Đặng Khánh D cung cấp là tại quán điện tử 1995, ngõ 4, đường P1, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Đặng Khánh D đã tiêu sài hết 190.000 đồng do Hoàng Thanh T đưa còn lại 200.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hoàng Thanh T trình bày: Anh được nhận vận chuyển hàng cho bị cáo Đặng Khánh D là 02 gói ma túy Cần sa bị thu giữ trong vụ án, nhưng anh không biết hàng vận chuyển là ma túy. Theo thỏa thuận, khi nhận vận chuyển hàng cho bị cáo theo yêu cầu, anh Hoàng Thanh T đã trả tiền hàng cho bị cáo 390.000 đồng, anh sẽ vận chuyển hàng đến quán điện tử 1995, ngõ 4, đường P1, phường C, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, giao hàng cho người tên M có số điện thoại 0392.996.732 và sẽ nhận 400.000 đồng, trong đó 390.000đồng là tiền hàng và 10.000 đồng tiền sip (vận chuyển) hàng; tuy nhiên anh chưa kịp giao hàng thì bị Công an đến kiểm tra. Anh Hoàng Thanh T yêu cầu bị cáo Đặng Khánh D trả số tiền 390.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 105/CT-VKS, ngày 26 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đặng Khánh D về tội Mua bán phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại Cơ quan Điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hoàng Thanh T trình bày: Anh đã được mẹ của bị cáo Đặng Khánh D trả cho số tiền 390.000 đồng, nên anh không yêu cầu bị cáo phải trả tiền nữa và không có ý kiến gì khác.

Bà Nguyễn Cẩm Th không yêu cầu bị cáo Đặng Khánh D hoàn trả lại 390.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn luận tội: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Khánh D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Khánh D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Vật chứng của vụ án, căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; của Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị: Vật chứng là ma túy và những vật dụng liên quan đến ma túy, tịch thu tiêu hủy. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu kim loại bạc, máy cũ đã qua sử dụng, tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước. Số tiền 200.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy mà có, tịch thu sung quỹ nhà nước. Biện pháp tư pháp: Truy thu bị cáo số tiền 190.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo khai nhận tội như bản Cáo trạng truy tố, tại phiên tòa không xuất hiện tình tiết mới, nên không tranh luận về tội danh. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, có ông nội là người có công với cách mạng, bị cáo đã tác động gia đình trả tiền cho anh Hoàng Thanh T khắc phục trách nhiệm dân sự. Do đó, đề nghị xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt. Bị cáo không có tài sản riêng nên đề nghị không phạt tiền bị cáo.

Bị cáo nhất trí lời bào chữa của Luật sư, không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện, các tài liệu chứng cứ đã thu thập đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có đủ căn cứ xác định: Khoảng 10 giờ ngày 14/6/2022, bị cáo Đặng Khánh D đang thực hiện hành vi bán 02 (hai) gói ma túy Cần sa với giá 390.000 đồng thông qua dịch vụ vận chuyển giao hàng của “Lạng Sơn Shipper” thì bị phát hiện bắt giữ. Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ số ma túy Cần sa của Đặng Khánh D bao gồm số đang tiêu thụ và số cất giấu tại nhà ở chưa kịp tiêu thụ có tổng khối lượng 39,095 gam. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Khánh D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, hám lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện mua trái phép chất ma túy về sử dụng và nhằm bán lại cho những đối tượng nghiện để kiếm lợi.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện; gia đình bị cáo có công với cách mạng, ông nội bị cáo là Đặng Công Đang được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý như Huân chương quân công, huân chương kháng chiến, huân chương chiến thắng, Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; chưa lần nào bị kết án, xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật, được đánh giá có nhân thân tốt.

Từ những nhận định trên thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tại Biên bản xác minh ngày 04/8/2022, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, không có việc làm ổn định, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về vật chứng: Vật chứng là ma túy (loại cần sa) đựng trong 07 phong bì niêm phong sau giám định, là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy. 01 (một) ba lô màu đen, có chữ “Adidas”; 01 (một) vỏ hộp kính, màu xám, bằng vải, kích thước 17cm x 07cm x 4,5cm; 01 cân tiểu ly kích thước 7,5cm x 4,5cm, màu đen bạc; 01 (một) bình thủy tinh màu trắng, có nắp, kích thước 24cm x 14cm; 20 (hai mươi) túi nilon, màu trong suốt, kích thước 4cm x 6cm, viền túi màu đỏ; 01 (một) vỏ hộp kim loại hình trụ, ghi chữ British, có nắp, kích thước 23,5cm x 9cm; 01 (một) hộp giấy, bên ngoài màu xanh, trắng kích thước 11cm x 10,5cm x 05cm; 01 (một) tấm đệm mút màu trắng, kích thước 10cm x 07cm x 04cm là những vật liên quan đến tội phạm, nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu kim loại bạc, máy cũ đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng vào việc liên lạc trao đổi mua bán trái chất ma túy, nên cần tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước.

Bị cáo bán ma túy được 390.000 đồng, bị cáo đã tiêu 190.000 đồng, bị thu giữ 200.000 đồng, nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước 200.000 đồng và truy thu bị cáo 190.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

Đối với anh Hoàng Thanh T, quá trình điều tra xác định khi nhận gói hàng của Đặng Khánh D, Hoàng Thanh T không biết bên trong cất giấu ma túy nên nên không xử lý. Anh Hoàng Thanh T đã được bà Nguyễn Cẩm Th (mẹ bị cáo) đã tự nguyện trả giúp bị cáo số tiền 390.000 đồng, anh Hoàng Thanh T không có yêu cầu gì khác; bà Nguyễn Cẩm Th không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại tiền; nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với nam thanh niên tên M sử dụng số điện thoại 0392.996.732 nhắn tin mua ma túy với Đặng Khánh D. Cơ quan điều tra đã ra Lệnh thu giữ điện tín để xác M làm rõ thông tin gửi đến Công ty Viễn thông Viettel, chi nhánh tỉnh Lạng Sơn nhưng đến nay chưa nhận được văn bản trả lời nên chưa làm rõ được để xử lý trong vụ án này. Khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và các nội dung khác là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và các nội dung khác là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Khánh D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Khánh D 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/6/2022.

3. Biện pháp tư pháp: Truy thu bị cáo số tiền 190.000đ (một trăm chín mươi nghìn đồng).

4. Xử lý vật chứng:

a) Tịch thu tiêu hủy:

- 07 (bẩy) phong bì niêm phong sau giám định đựng cần sa, có kí hiệu từ "0"- đến "06";

- 01 (một) ba lô màu đen, có chữ “Adidas”.

- 01 (một) vỏ hộp kính, màu xám, bằng vải, kích thước 17cm x 0,7cm x 4,5cm;

- 01 (một) cân tiểu ly kích thước 7,5cm x 4,5cm, màu đen bạc;

- 01 (một) bình thủy tinh màu trắng, có nắp, kích thước 24cm x 14cm;

- 20 (hai mươi) túi nilon, màu trong suốt, kích thước 4cm x 6cm, viền túi màu đỏ;

- 01 (một) vỏ hộp kim loại hình trụ, ghi chữ British, có nắp, kích thước 23,5cm x 9cm;

- 01 (một) hộp giấy, bên ngoài màu xanh, trắng kích thước 11cm x 10,5cm x 05cm;

01 (một) tấm đệm mút màu trắng, kích thước 10cm x 07cm x 04cm;

b) Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu kim loại bạc, máy cũ đã qua sử dụng, số imei: 358371060916502, lắp sim số 0868.980.195.

c) Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

(Những vật chứng này hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2022 giữa Công an thành phố Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Khánh D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lạng sơn;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Lạng Sơn;

- Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;

- VKSND TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn;

- Công an TP. Lạng Sơn, T. lạng Sơn;

- CCTHADS TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn;

- Bị cáo, người có QLNVLQ đến vụ án;

- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

Nguyễn Hải Ninh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hải Ninh Nguyễn Nhật Chiến Ma Thanh Trọng

Cỡ chữ