vanban.org

Bản án 112/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lương Văn T, Lô Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lương Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lương Văn T, Lô Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2022/HS-ST
Ngày 25-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Ngọc và bà Lô Thị Hướng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng T - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022, tại nhà tạm giữ Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 104/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lương Văn T. Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 20 tháng 02 năm 1968. Tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản XN, xã YN, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 07/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Văn M (đã mất) và bà Vy Thị H sinh năm 1938, Vợ Lương Thị M; Con: 04 con;Tiền án: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy ( Tháng 12 năm 2019 chấp hành xong bản án về cư trú tại địa phương;Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2022 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Lô Văn D. Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 27 tháng 6 năm 1995. Tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản XN, xã YN, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Con ông Lô Văn T và bà Lương Thị T; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2022 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Hoàng Thị Hà - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An (Có mặt);

-Người chứng kiến: Anh Lương Văn P, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Bản XL, xã YH, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 29/6/2022, Lương Văn T lên cơn nghiện ma túy nên đã đi đến nhà của Lô Văn D, ở bản XN, xã YN, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An để rủ D đi mua ma túy sử dụng. D đồng ý rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA NOUVO biển kiểm soát 37D1-085.48 chở T đi đến bản XL, xã YH, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Tại đây, D và T đã gặp một người đàn ông tên Quân không rõ lai lịch, địa chỉ đang đứng bên đường nên D dừng xe lại và một mình đến gặp Quân hỏi mua ma túy Heroine. Hỏi mua xong, D quay lại chỗ T đang chờ rồi cả hai cùng nhau góp tiền (T góp 200.000 đồng, còn D góp 190.000 đồng) để mua ma túy. Góp tiền xong, D cầm số tiền 390.000đ (Ba trăm chín mươi nghìn đồng) đến mua của Quân 01 (một) gói Heroine bên ngoài được gói bằng bao Potylen màu đen. Mua ma túy xong, Lê Văn D cầm trong bàn tay trái rồi điều khiển xe máy chở Lương Văn T đi về. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày cả hai đang trên đường về thì bị tổ công tác Công an huyện Tương Dương và Công an xã YH huyện Tương Dương đang làm nhiệm vụ tại bản XL, xã YH, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang đối với Lê Văn D và Lương Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã thu giữ trong lòng bàn tay trái của Lô Văn D 01 (một) gói bên ngoài được gói bằng bao Potylen màu đen bên trong chứa chất bột màu trắng nghi Heroine và 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA NOUVO biển kiểm soát 37D1-142.63 đã qua sử dụng. Lô Văn D và Lương Văn T khai nhận gói chất bột màu trắng là Heroine do D và T góp tiền mua đưa về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại bản Kết luận giám định số: 998/KL- KTHS (Đ2 - MT), ngày 05/07/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn D và Lương Văn T gửi tới giám định là ma túy Heroine có khối lương là 0,64 (Không phẩy sáu mươi tư) gam.

Bản cáo trạng số 112/CT-VKS-TD ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Lương Văn T, Lô Văn D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lương Văn T mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểms khoản 1Điều 51Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lô Văn D mức án từ 12 tháng đến 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Miễn hình phạt bổ sung và án phí cho các bị cáo theo đúng quy định của pháp luật;

Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận về điều khoản, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến trình độ nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, lại cư trú ở vùng sâu, vùng xa để lên mức hình phạt cho các bị cáo mức án thấp nhất theo lời đề nghị của kiểm sát viên và miễn hình phạt bổ sung, án phí đối với các bị cáo.

Các bị cáo Lương Văn T, Lô Văn D đồng ý với quan điểm truy tố của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công An huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của ngườichứng kiến và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 29/6/2022, tại bản XL, xã YH, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, Lương Văn T và Lô Văn D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,64 (Không phẩy sáu mươi tư) gam ma túy Heroine với mục đích sử dụng. Như vậy hành vi của các bị cáo Lương Văn T, Lô Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Chính vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố các bị cáo Lương Văn T, Lô Văn D theo tội danh và Điều luật, viện dẫn ở trên là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đây là vụ án nghiêm trọng bởi hành vi phạm tội của các bị cáo phạm vào khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, điều luật có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Các bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đây là vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm với tính chất đồng phạm giản đơn nên cần phân hóa vai trò của từng người để áp dụng hình phạt phù hợp.

Lương Văn T là người khởi xướng rủ Lô Văn D đi mua ma túy nên bị cáo T phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo D là hoàn toàn thỏa đáng.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lô Văn D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Lương Văn T đang có 01 (một) tiền án chưa được xóa án tích mà vẫn tiếp tục thực hiện tội phạm nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với cả hai bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự lẽ ra cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo, song xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, không có tài sản được tạo lập từ hành vi phạm tội, khó có khả năng thi hành nên miễn hình phạt bổ sung cho cả hai bị cáo.

Đối với người đàn ông tên Quân đã bán ma túy cho các bị cáo Lương Văn T, Lô Văn D. Hiện cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ người này nên chưa có căn cứ xử lý.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,64 (Không phẩy sáu mươi tư) gam Heroine (Đã lấy 0,2 gam gửi đi giám định, còn lại 0,44 gam) cùng vỏ niêm phong cũ là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA NOUVO biển kiểm soát 37D1-142.63 đã qua sử dụng đây là tài sản chung và phương tiện duy nhất phục vụ sinh hoạt của gia đình bị cáo Lô Văn D. Việc bị cáo D sử dụng chiếc xe để chở bị cáo T đi mua ma túy gia đình bị cáo D không biết. Ngày 29/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã quyết định trả lại chiếc xe cho ông Lô Văn Thành (bố đẻ của bị cáo D). Việc trả lại chiếc xe của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương là hoàn toàn đúng với quy định pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo Lương Văn T, Lô Văn D là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Lương Văn T, Lô Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Lương Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2022.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Lô Văn D 01 ( Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2022.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án. (Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/9/2022 giữa cơ quan Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An).

-Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lương Văn T, Lô Văn D.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 25/10/2022. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND, VKSND tỉnh NA;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKS Tương Dương;

- Công an H. Tương Dương;

- UBND xã YN;

- Các bị cáo;

- Sở Tư Pháp Nghệ An;

Hoàng Văn Cường

- Chi cục THADS Tương Dương;

- Người bào chữa

- Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ