vanban.org

Bản án 112/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị S. Bà Lương Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: Hai con chung tên Nguyễn Tấn D, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1996 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Son ly hôn ông Tấn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị S. Bà Lương Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16 -5-2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn, con
chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.

2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên – Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ TP. B

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B- tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2294/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2021, về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 135/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022 , giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lương Thị S, sinh năm 1973.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968.

Cùng địa chỉ: 296/X, tổ 8 (nay là tổ 7), khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà S có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Lương Thị S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 201/2006 ngày 15/11/2006. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng từ năm 2018 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trong vấn đề cuộc sống. Bên cạnh đó quan điểm sống của hai vợ chồng không đồng nhất, vì vậy thường xuyên cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau. Nay bà S xác định không còn tình cảm nên xin được ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Tấn D, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1996. Hai con chung đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn Tấn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Tấn.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà S, ông T không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà S yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Về con chung: Hai con chung tên Nguyễn Tấn D, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1996 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông T nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà S phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Lương Thị S yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, con chung”; Bà Lương Thị S là nguyên đơn, ông Nguyễn Văn T là bị đơn.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lương Thị S nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn T hiện đang cư trú tại số 296/8, tổ 8 (nay là tổ 7), khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Bà S có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt neân toøa aùn tieán haønh xét xử vắng mặt bà S, ông T theo quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị S và ông Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 201/2006 ngày 15/11/2006 nên áp dụng Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng khoảng đầu năm 2018 đến nay thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trong vấn đề tình cảm. Bên cạnh đó quan điểm sống của hai vợ chồng không đồng nhất, vì vậy thường xuyên cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau. Nay bà S xác định không còn tình cảm nên xin được ly hôn với ông T.

Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông T đến Tòa làm việc nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi thể hiện việc ông T không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không thiết tha cuộc sống hôn nhân với bà S. Qua kết quả xác minh tại nơi cư trú ngày 04/03/2022 thì địa phương không nắm rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng bà S và ông T.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà S và ông T là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S, giải quyết cho bà S được ly hôn với ông T để trả tự do cả hai là phù hợp.

- [5] Về con chung: Hai con chung tên Nguyễn Tấn D, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1996 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông T nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Bà S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, 11, 56, Điều 85, Điều 89, Điều 91, Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị S. Bà Lương Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Hai con chung tên Nguyễn Tấn D, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1996 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà Lương Thị S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000841 ngày 23/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Bà S đã nộp xong án phí.

Bà S, ông T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.

T.M HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM

Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa Nơi nhận:

- TAND tỉnh Đồng Nai;

- VKS ND tỉnh Đồng Nai;

- T.H.A dân sự TP. B;

- VKS TP B;

- Các đương sự.

- UBND nơi đăng ký kết hôn

- Lưu HS, VP.

Trần Thị Thúy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy

T.M HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM

Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa

Cỡ chữ