- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ N-Lăng Văn D"
- Tòa quyết gì? 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 112/2022/HNGĐ-ST Ngày: 16/11/2022 |
HUYỆN MỎ CÀY NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Mai Thị Nhặc 2. Bà Đoàn Lệ Hồng - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thắm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Trong ngày 16 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 228/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 430/2022/QĐXX-ST ngày 31 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 433/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 07/11/2022 giữa: 1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1976; Nơi cư trú: ấp B, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre. 2. Bị đơn: Lăng Văn D, sinh năm 1973; Nơi cư trú: ấp B, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre. Chị N có mặt, anh D vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/8/2022, bản tự khai cũng như tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Mỹ N trình bày: Chị và anh D do mai mối tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 1995 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre vào ngày 16/11/1996. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc và có với nhau 02 người con chung tên Lăng Thị Bé T, sinh ngày 06/10/1995 và Lăng Thị Thúy H, sinh ngày 30/9/1999. Đến đầu năm 2012 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là anh D nhậu nhẹt, không lo cho gia đình và có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và đã ly thân từ 2019 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không
còn nên xin ly hôn đối với anh D. Về con chung: Đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết Về tài sản chung: Không có Về nợ chung: Không có Anh Lăng Văn D vắng mặt tại Tòa nên không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 03/8/2022 của chị Nguyễn Thị Mỹ N đối với anh Lăng Văn D thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam. Anh Lăng Văn D có nơi cư trú tại xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thụ lý đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ cũng như thông báo hòa giải cho anh D đến Tòa để tiến hành hòa giải nhưng anh D vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được. Ngoài ra, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre cũng đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho anh D đến để tham gia phiên tòa nhưng anh D vắng mặt không rõ lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh D là phù hợp. [2] Về nội dung tranh chấp: 2.1 Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mỹ N và anh Lăng Văn D tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 16/11/1996 tại UBND xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre nên được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Anh chị cũng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ nên được chấp nhận, bởi lẽ sau khi Toà thụ lý hồ sơ vụ án đã ra thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải cho anh D biết để anh đến Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia hoà giải với chị N nhằm tìm biện pháp tích cực để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng anh D vẫn cố tình không đến, điều đó chứng tỏ anh D cũng không có thiện chí đoàn tụ với chị N. Nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh D là phù hợp. 2.2. Về con chung:
Trong thời gian chung sống chị Nguyễn Thị Mỹ N và anh Lăng Văn D có 02 con chung tên Lăng Thị Bé T, sinh ngày 06/10/1995 và Lăng Thị Thúy H, sinh ngày 30/9/1999. Hiện 02 con của chị N và anh D đã trưởng thành và có gia đình riêng, đồng thời chị N và anh D cũng không có yêu cầu gì đối với 02 con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 2.3 Về tài sản chung: Chị N khai không có nên không xem xét giải quyết. 2.4 Về nợ chung: : Chị N khai không có nên không xem xét giải quyết. [3] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Nguyễn Thị Mỹ N phải có nghĩa vụ nộp. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 điểm, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. - Căn cứ các điều 51, 53, 54, 56, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ N đối với anh Lăng Văn D, cụ thể tuyên: 1. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Mỹ N và anh Lăng Văn D được ly hôn với nhau. 2. Về con chung: Lăng Thị Bé T, sinh ngày 06/10/1995 và Lăng Thị Thúy H, sinh ngày 30/9/1999 đã trưởng thành, đồng thời chị N và anh D không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết. 3 Về tài sản chung: Chị N khai không có nên không xem xét giải quyết. 4. Về nợ chung: Chị N khai không có nên không xem xét giải quyết 5. Về án phí: án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Nguyễn Thị Mỹ N có nghĩa vụ nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009530 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre “ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án nơi thường trú.
Nơi nhận: - TAND Bến Tre (1b); - VKSND huyện Mỏ Cày Nam (2b); - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam (1b); - UBND xã Cẩm Sơn (1b); - Những người tham gia tố tụng (2b); - Lưu HS, VP, THA (4b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Diễm |