- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ngô Khắc B kiện ông Ngô KHắc P"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308; Khoản 1 Điều 148 của BLTTDS.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 112 /2021/DS - PT Ngày 29 - 12 - 2021 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Phương Thanh
Bà Lê Thị Hiệu
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Xuân Tú – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Ông Nguyễn Văn Nguyên – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2021/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2021/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 94/2021/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Ngô Khắc B - Sinh năm: 1949; có mặt.
Địa chỉ: Thôn S, xã S , huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu V - Trợ giúp viên pháp lý. Địa chỉ: Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Ngô Khắc P - Sinh năm: 1954; có mặt Địa chỉ: Phố 1, xã T (nay là thị trấn L), huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
2.2. Ông Ngô Khắc K - Sinh năm: 1961; có mặt. Địa chỉ: Thôn S, xã S , huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị X - Sinh năm: 1975; có mặt. Địa chỉ: Khu phố S, thị trấn L, huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Ngô Khắc T; vắng mặt. Địa chỉ: Xã N, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
4.2. Ông Ngô Khắc L - Sinh năm: 1968; vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm: Bà Bùi Thị H – Sinh năm: 1959; có mặt. Cùng địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
4.3. Bà Ngô Thị S – Sinh năm: 1970; có mặt. Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
4.4. B1; vắng mặt.
4.5. Nguyễn Văn T (tức Đỗ Văn T); vắng mặt.
4.6. Lê Đình M; vắng mặt. Cùng địa chỉ: Khu phố S, thị trấn L, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
4.7. Bà Bùi Thị T – Sinh năm: 1973; vắng mặt.
4.8. Ông Phạm Văn T– Sinh năm: 1970; vắng mặt. Cùng địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong nội dung đơn khởi kiện ngày 15/7/2019, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Đầu năm 1990, ông và ông B1 ở phố 1, xã S (Nay là thị trấn L) cùng góp tiền mua nhà thanh lý của Trung tâm giống cây trồng miền núi Thanh Hóa (Gọi tắt là Trại M), ngôi nhà có diện tích 60 m2 cùng với diện tích đất 3950m2 với giá tiền 3.700.000đ, ông và ông B góp tiền mỗi người một nửa bằng 1.850.000đ. Sau đó ông B1 không sử dụng, nên bán lại cho ông phần đất của ông B 1975m2, ông được toàn quyền sử dụng 3950m2 đất và 01 căn nhà cấp 4 diện tích 60 m2. Sau khi đã mua lại toàn bộ thửa đất của Trại M, cũng trong năm 1990, ông đã cho bố, mẹ ông lên ở để trông coi nhà, đất ông mua của Trại M. Khi đó em trai của ông là Ngô Khắc H (Nay đã chết năm 2015), lúc đó chưa lập gia đình nên ở cùng với bố, mẹ ông. Anh Ngô Khắc H đã tự ý làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của ông và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Ngô Khắc H. Khi ông biết được việc anh Ngô Khắc H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì trong gia đình ông xảy ra việc tranh chấp đất đai giữa các anh em trong gia đình, sau đó anh em trong gia đình đã tự hòa giải với nhau và bố, mẹ ông vẫn ở ngôi nhà trên phần đất của ông. Đến năm 2011 thì bố ông chết, mẹ ông vẫn tiếp tục ở tại ngôi nhà đó, đến năm 2013 mẹ ông chết. Sau khi bố, mẹ ông qua đời, anh em trong gia đình thống nhất chuyển bàn thờ bố, mẹ về nhà ông để thờ cúng.
Để đảm bảo quyền sử dụng đất của ông, anh H và ông đã thỏa thuận thống nhất anh H trả lại diện tích đất ông mua của Trại M mà anh H đang đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2.729m2, theo hình thức tặng cho quyền sử dụng đất. Phần đất còn lại thuộc quyền quản lý sử dụng của vợ chồng anh Ngô Khắc H, chị Nguyễn Thị X. Ngày 01/4/2015, ông và vợ chồng anh Ngô Khắc H, chị Nguyễn Thị X đã đến Phòng Công chứng số 02 tỉnh Thanh Hóa làm thủ tục tặng cho ông diện tích 2.729m2. Ngày 31/12/2015, ông được UBND huyện Ngọc Lặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất anh H tặng cho tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 25, bản đồ địa chính phố 1, xã T (Nay là thị trấn L) diện tích là 2.729m2. Tháng 02 năm 2016 ông đã mua cây giống và thuê chị T, anh T và chị T trồng cây trên thửa đất đó, đến năm 2018, ông P và ông K là anh, em ruột của ông, đã tự ý lập bàn thờ bố, mẹ trong ngôi nhà và phần đất anh H tặng cho ông, nên giữa ông và ông P và ông K phát sinh tranh chấp. Về nội dung các anh em thỏa thuận chia đất ngày 08/5/2008, ông công nhận ông có được tham gia và ký vào biên bản thỏa thuận, nhưng việc thỏa thuận đó là ông bị ép buộc và thỏa thuận đó là để lại nhà và đất cho bố mẹ ông ở, không phải là tài sản của bố mẹ ông.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Ngô Khắc P và ông Ngô Khắc K phải trả lại cho ông 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 60m2 trên diện tích đất 1664,6 m2, tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 25, bản đồ địa chính xã T (Nay là thị trấn L), huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ: Phố 1 T, thị trấn L, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Về giá trị tài sản: Ông và ông P, ông K, chị X đã thống nhất xác định giá trị ngôi nhà 1.000.000đ, cây trên đất gồm: 10 cây xoan, 45 cây keo giá trị 50.000đ/cây là 2.750.000đ. Tổng cộng giá trị tài sản là 3.750.000đ. Giá trị đất tranh chấp xác định là đất ở 300.000đ/m2 và giá trị đất vườn là 35.000đ/m2.
Ngoài số tài sản kể trên còn có tài sản gồm: Giếng nước, tài sản trong ngôi nhà và một số cây trên đất ông và ông P, ông K, chị X xác định giá trị không đáng kể, không yêu cầu giải quyết. Về chi phí thẩm định, ông là người đề nghị, nên ông tự nguyện chịu chi phí thẩm định tài sản theo quy định pháp luật.
Bị đơn là ông Ngô Khắc P trình bày: Việc ông B khởi kiện ông và ông K phải trả lại ngôi nhà và diện tích đất 1.664,6m2 là không đúng vì thửa đất trên không mang tên ông và cũng không mang tên ông K. Ngôi nhà 60m2 cùng với diện tích đất 1.664,6m2 là thuộc quyền sở hữu của bố mẹ ông là ông Ngô Khắc S và bà Dương Thị Đ. Trước đây bố, mẹ ông ở quê bán nhà, đến năm 1992, Trại M bán thanh lý nhà, nên đã nhờ ông B đứng tên mua căn nhà thanh lý của Trại M nằm trên diện tích đất 3756 m2 và để ông B đứng tên. Bố, mẹ ông đã đưa cho ông B 2.200.000đ để mua nhà thanh lý và thửa đất đó. Ông B đã lật lọng với bố, mẹ ông và nói là không đưa tiền. Vì vậy đến năm 2006, bố ông đã khởi kiện đến Tòa án để giải quyết tranh chấp và Tòa án đã quyết định giao cho bố ông được quyền quản lý sử dụng diện tích đất 1701m2. Như vậy, ngôi nhà 60m2 và diện tích đất 1701m2 là thuộc quyền sử hữu của bố, mẹ ông. Hiện nay ông cũng không sử dụng và tranh chấp ngôi nhà và thửa đất với ông B, do nhà ở gần sát bên cạnh, nên hàng tháng, ngày tuần, ngày lễ ông chỉ sang thắp hương. Đối với số cây trồng trên đất là do ông cùng với các con của ông S trồng từ năm 2014. Việc UBND huyện Ngọc Lặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B vào năm 2015 là không đúng vì không có sự đồng ý của 06 anh em trong gia đình, nhưng ông không khiếu nại, không K kiện việc UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B. Ông đề nghị Tòa án công nhận nhà và đất ông B khởi kiện là tài sản của ông Ngô Khắc S.
Nay ông B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông và ông Ngô Khắc K phải trả lại nhà và đất, ông không đồng ý, vì nhà, đất của bố, mẹ ông giao cho ông Ngô Khắc H (nay đã chết) quản lý sử dụng, sau này để làm nơi thờ cúng dòng họ Ngô Khắc khi bố, mẹ ông qua đời. Ông đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Khắc B.
Về giá trị tài sản tranh chấp: Ông công nhận tại biên bản xem xét thẩm định ông và ông B, ông K, chị X đã thỏa thuận về giá trị tài sản như ông B đã trình bày, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Bị đơn ông Ngô Khắc K trình bày: Ông thống nhất với nội dung ông Ngô Khắc P đã trình bày, Năm 2014 ông cùng với anh em trong gia đình trồng cây như ông P trình bày là đúng và ông là người đi mua cây giống tại dốc K xã T, huyện Ngọc Lặc về trồng, ông đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị X trình bày: Chồng chị là Ngô Khắc H khi bị ốm xét thấy không qua khỏi, anh H đã nói với chị là gọianh B đến để bàn giao lại số đất anh mang tên anh H trong sổ đỏ choanh B, không có sau này anh mất đi anh em lại lôi thôi, trước đây ông bà còn sống anh em đã tranh chấp để giữ lại một nửa để ông bà ở, nhưng ông bà đã mất rồi thì anh em bảo cứ giữ lại một nửa, nhưng anh bảo còn ông bà thì anh mới giữ lại cho ông bà ở, nay ông bà mất rồi thì đất củaanh B phải giao hết choanh B, đầu năm 2015 anh H bảo chị gọianh B đến nhà chị. Anh H vàanh B đã thỏa thuận anh H trả lại đất choanh B, nhưanh B trình bày là đúng, khi lập hợp đồng chị cũng đã được xác nhận là tài sản trên đất không liên quan đến chị. Chị xác định diện tích đất các bên đang tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của ông Ngô Khắc B.
Người làm chứng trình bày:
Các ông Ngô Khắc L, Ngô Khắc T đều trình bày: Đồng ý với phần trình bày của ông Ngô Khắc P và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bà Bùi Thị T và ông Phạm Văn T đều trình bày: Tháng 02/2016 ông B có thuê chị T và anh T trồng keo trên diện tích đất của ông B có ngôi nhà 02 gian, ông B trả công là 80.000đ/ngày, giống cây do ông B mang đến để mọi người trồng.
Ông Đỗ Văn T trình bày: Ông là cán bộ công nhân viên Trung tâm giống cây trồng Thanh Hóa (Chi nhánh L). Sau khi có quyết định giải thể, Công ty giống cây trồng Thanh Hóa đã ủy quyền cho đơn vị được phép thanh lý tài sản bao gồm nhà xưởng, vật liệu vật tư theo lệnh của giám đốc. Ông đã viết giấy bán cho ông Ngô Khắc B khu tập thể của cán bộ công nhân viên vào ngày 28/1/1992 (hai bên đã giao nhận xong).
Ông Lê Đình M trình bày: Năm 1992, Trại M Ngọc Lặc có chủ trương bán thanh lý nhà. Thời điểm đó ông là Chủ tịch Công đoàn nên ông là thành phần trong Hội đồng bán thanh lý nhà. Trại M đã bán thanh lý nhà cho ông B1 ở thôn S, xã S, huyện Ngọc Lặc. Trại M không bán thanh lý nhà cho ông Ngô Khắc B. Lúc đó, Trại M chỉ bán nhà thanh lý, còn về đất là thuộc quyền của Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Lặc.
Ông B1 trình bày: Năm 1992, ông và ông Ngô Khắc B ở thôn S, xã S, huyện Ngọc Lặc có mua chung với nhau một ngôi nhà và đất do trại M, huyện Ngọc Lặc thanh lý. Ông không có nhu cầu sử dụng nhà và đất đã mua chung với ông Ngô Khắc B, nên ông đã chuyển nhượng nhà và đất đã mua chung cho ông Ngô Khắc B đồng thời ông chuyển lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến việc mua bán đất cho ông Ngô Khắc B. Từ trước đến nay giữa ông và ông Ngô Khắc B không có tranh chấp gì với nhau.
Tại Bản án số 07/2021/DS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 147, Điều 166, Điều 188 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013. Điều 166 và Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điểm a khoản 1 Điều 24, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Khắc B:
- Công nhận nhà, cây và diện tích đất 1.664,6m2, tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 25, bản đồ địa chính xã T (Nay là thị trấn L), huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông B.
- Buộc ông Ngô Khắc P và ông Ngô Khắc K phải mang các tài sản trong ngôi nhà gồm: Một bàn thờ, một bộ Trường kỷ, một tủ ly và một bộ phản đã cũ ra khỏi ngôi nhà và diện tích đất đang tranh chấp, trả lại ngôi nhà cấp 4 hai gian, số cây trên đất và diện tích đất 1.664,6m2, tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 25, bản đồ địa chính xã T (Nay là thị trấn L), huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ: Phố 1, thị trấn L, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa cho ông Ngô Khắc B. (Theo biên bản xem xét thẩm định và sơ đồ thửa đất kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Ngày 05/10/2021, bị đơn là ông Ngô Khắc P và ông Ngô Khắc K kháng cáo, với nội dung:
- Đưa đại diện Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Lặc, ông Ngô Khắc T2, ông Ngô Khắc T, ông Ngô Khắc L, bà Ngô Thị S tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc;
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Ngô Khắc B trên phần đất của bố mẹ các ông để lại;
- Bác đơn khởi kiện của ông Ngô Khắc B, chia tài sản thừa kế tài sản do bố mẹ các ông để lại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm tuân theo quy định của BLTTDS. Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 308 BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự và ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn:
- Về nguồn gốc đất:
Các bên đều thừa nhận toàn bộ diện tích đất 3.950m2 đất, địa chỉ tại phố 1, xã T, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa có nguồn gốc là của Trung tâm giống cây trồng Miền núi Thanh Hóa đã chuyển nhượng và ông Ngô Khắc B là người nhận chuyển nhượng cuối cùng. Căn cứ vào các tài liệu gồm: biên bản bàn giao nhà thanh lý ngày 28/01/1992 giữa Tổ giải thể Trung tâm giống cây trồng Miền núi Thanh Hóa với ông Nguyễn Văn T; phiếu thu tiền ngày 30/01/1992 của Trung tâm giống cây trồng Miền núi Thanh Hóa; giấy chuyển nhượng nhà đất giữa ông Nguyễn Văn T cho ông Ngô Khắc B, ông B1 ngày 30/9/1992; giấy xác nhận của ông B1 xác định nhường lại xuất của ông B1 cho ông Ngô Khắc B là 1.975m2 đất. Do đó, ông Ngô Khắc B toàn quyền sử dụng 3.950m2 đất, tại phố 1, xã T, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn là ông P và ông K đều khẳng định ngôi nhà 60m2 cùng với diện tích đất 1.664,6m2 là thuộc quyền sở hữu của bố mẹ ông là ông Ngô Khắc S và bà Dương Thị Đ. Trước đây bố, mẹ ông ở quê bán nhà, đến năm 1992, Trại M bán thanh lý nhà, nên đã nhờ ông B đứng tên mua căn nhà thanh lý của Trại M nằm trên diện tích đất 3756 m2 và để ông B đứng tên. Bố, mẹ ông đã đưa cho ông B 2.200.000đ để mua nhà thanh lý và thửa đất đó. Tuy nhiên, bị đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nhà đất trên là của cụ Sập và cụ Để cũng như nguồn tiền mua nhà đất thanh lý trên. Mặt khác, bị đơn trình bày diện tích đất đang tranh chấp đã được thỏa thuận phân chia ngày 08/5/2008 có chữ ký của tất cả các con của ông S, có xác nhận của UBND xã T và đã được Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc xét xử phân chia đất cho ông S và ông B. Xét thấy, mặc dù giấy thỏa thuận có xác nhận của chính quyền địa phương, nhưng diện tích đất các bên thỏa thuận đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Ngô Khắc H trước khi các bên thỏa thuận và sự thỏa thuận đó chưa được làm thủ tục đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai, chưa được vào sổ địa chính, nên thỏa thuận giữa các bên ngày 08/5/2008 chưa có hiệu lực pháp luật. Đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 06/DS-ST ngày 01/11/2006 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc phân chia đất cho ông S và ông B bị kháng cáo. Ngày 28/9/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn là ông Ngô Khắc S rút đơn khởi kiện, nên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/DS-ST ngày 01/11/2006 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc không có hiệu lực pháp luật. Hơn nữa, ngày 12/8/1996, ông Ngô Khắc H được UBND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 3.950m2 đất, tại phố 1, xã T, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Đến ngày 01/4/2015, ông Ngô Khắc H đã lập Hợp đồng tặng cho ông Ngô Khắc B 2.729m2 đất đã được công chứng. Ngày 31/12/2015, ông B được UBND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 2.729m2 đất. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B là hợp pháp.
- Bị đơn đề nghị Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Ngô Khắc B trên phần đất của bố mẹ các ông để lại. Bác đơn khởi kiện của ông Ngô Khắc B, chia tài sản thừa kế tài sản do bố mẹ các ông để lại theo quy định của pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bị đơn cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Ngô Khắc B và chia tài sản thừa kế tài sản. Mặt khác, như đã phân tích trên không có cơ sở xác định đất đang tranh chấp là của cụ Ngô Khắc S và cụ Dương Thị Đ nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn.
- Bị đơn đề nghị đưa đại diện Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Lặc, ông Ngô Khắc T2, ông Ngô Khắc T, ông Ngô Khắc L, bà Ngô Thị S tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy Tòa án không đưa UBND huyện Ngọc Lặc tham gia tố tụng trong vụ án. Ông B khởi kiện ông P và ông K về việc tranh chấp nhà đất, không phải chia thừa kế, nên không đưa tất cả các con của ông S, bà Để tham gia tố tụng nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn.
* Từ những phân tích trên không có cơ sở hủy Bản án sơ thẩm và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[2]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Ngô Khắc P và ông Ngô Khắc K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; tuy nhiên do ông Ngô Khắc P là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; căn cứ khoản 1 Điều 29; điểm đ khoản 1 Điều 12 NQ 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308; Khoản 1 Điều 148 của BLTTDS.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Ngô Khắc P và ông Ngô Khắc K, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 147, Điều 166, Điều 188; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013. Điều 166; Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điểm a khoản 1 Điều 24, Điều 27; khoản 1 Điều 29; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Khắc B:
+ Công nhận nhà, cây và diện tích đất 1.664,6m2, tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 25, bản đồ địa chính xã T (Nay là thị trấn L), huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông B.
+ Buộc ông Ngô Khắc P và ông Ngô Khắc K phải mang các tài sản trong ngôi nhà gồm: Một bàn thờ, một bộ Trường kỷ, một tủ ly và một bộ phản đã cũ ra khỏi ngôi nhà và diện tích đất đang tranh chấp, trả lại ngôi nhà cấp 4 hai gian, số cây trên đất và diện tích đất 1.664,6m2, tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 25, bản đồ địa chính xã T (Nay là thị trấn L), huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ: Phố 1, thị trấn L, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa cho ông Ngô Khắc B. (Theo biên bản xem xét thẩm định và sơ đồ thửa đất kèm theo).
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Ngô Khắc K phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ ông K đã nộp theo biên lai thu số 0011757 ngày 05/10/2021 của Chi cục THADS huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND huyện Ngọc Lặc; - Chi cục THADS huyện Ngọc Lặc; - Đương sự; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Thủy |