- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Lê Quang Khương - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều…"
- Tòa quyết gì? hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2020/HS-ST Ngày 24 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH,TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phụng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Ba.
Bà Lý Thị Bạch Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên
tòa: Bà Vũ Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 123/2020/HSST, ngày 24 tháng 6 năm
2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2020/QĐXXST - HS ngày 10
tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Quang K, tên gọi khác: không, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1994 tại
Thanh Hóa (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn Y, xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay:
Không có nơi ở ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang
K, sinh năm 1966 và bà Lê Thị P, sinh năm 1974; có vợ: Cao Thị N, sinh năm
1993 và chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/3/2020 đến nay tại nhà tạm giữ Công an
huyện Long Thành.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phan Thị M, sinh năm 1988
(vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quang K là người nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định.
Lúc 18 giờ ngày 02/3/2020, tại quán cà phê “Điểm Hẹn” thuộc phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương, K được một đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) thuê điều khiển 01 chiếc xe mô tô đến huyện L, tỉnh Bình Phước để giao xe cho một người không rõ lai lịch được trả công 200.000 đồng, K đồng ý. Sáng ngày 03/3/2020, K đến địa điểm đã hẹn thì gặp một người đàn ông khác giao cho K một chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đen bạc mang biển số giả là 93F1-45914, số khung RLHJA3901HY496848, số máy JA39E0471982 (biển số thật là 60C1-98475). Người này đưa trước cho K 100.000 đồng, hẹn khi nào giao được xe cho người có số thuê bao xxxx.xxx.xxx thì người đó sẽ trả thêm 100.000 đồng và cho K tiền xe đi về. Khi nhận xe K có hỏi giấy tờ xe thì người đàn ông né tránh không trả lời, K biết xe này không hợp pháp nhưng cần tiền tiêu xài nên nhận lời điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave đi giao theo thỏa thuận. Khi K điều khiển xe mô tô trên đến địa phận xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước dùng điện thoại SamSung J5 gọi cho số thuê bao xxxx.xxx.xxx hẹn địa điểm giao xe, K đang trên đường đến địa điểm giao xe thì bị lực lượng Công an xã L kiểm tra xác định xe do trộm cắp của chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn T bị mất trộm vào ngày 02/3/2020 tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai và bắt giữ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 19/KLĐG ngày 05/3/2020 của Hội
đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Long Thành kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 60C1-984.75, màu đen bạc, số khung RLHJA3901HY496848, số máy JA39E0471982 (đã qua sử dụng) trị giá 12.000.000 đồng.
Tại cáo trạng số 142/CT -VKSLT, ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Viện
kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Quang K như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Lê Quang K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Quang K mức án từ 07 tháng đến 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô Honda Wave, màu đen bạc, số khung
RLHJA3901HY496848, số máy JA39E0471982 đã giao trả lại cho anh Nguyễn Văn T.
- 01 điện thoại di động hiệu SamSung J5, K sử dụng vào việc phạm tội, đề
nghị Tòa án tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Số tiền 38.000 đồng thu giữ trên người của K, Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện Long Thành chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Long
Thành tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Riêng biển số 93F1-45914 xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Hoàng S.
Tuy nhiên, anh S đã bán chiếc xe mô tô có biển số trên cho một người mang
quốc tịch Camphuchia, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành
tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn T và chị Phan Thị M đã
nhận lại xe không yêu cầu gì nên không xét.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS đề nghị Tòa
án tuyên buộc bị cáo Lê Quang K nộp lại 100.000 đồng do phạm tội mà có.
Đối với người thanh niên (không rõ họ tên, nhân thân lai lịch) gọi điện
thoại thuê K, Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện
Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên
tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều
hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Quang K khai nhận: Lúc 18 giờ ngày
02/3/2020, tại quán cà phê “Điểm hẹn” ở phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương,
Lê Quang K nhận lời điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen
bạc, mang biển số giả là 93F1-459.14, số khung RLHJA3901HY496848, số máy
JA39E0471982 là tài sản của anh Nguyễn Văn T bị trộm cắp vào lúc 17 giờ
ngày 02/3/2020 tại khu 15, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. K biết chiếc xe mô tô
trên có nguồn gốc bất hợp pháp do phạm tội mà có nhưng do hám lợi nên vào
sáng ngày 03/03/2020 đã điều khiển chiếc xe trên đến huyện L, tỉnh Bình Phước
giúp sức cho người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có thì bị lực lượng Công an xã L, huyện L phát hiện,
bắt giữ đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy
tố.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như các chứng cứ thu thập được
trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Quang K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gián tiếp xâm
phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết rõ nguồn gốc tài sản bị cáo được thuê mang đi tiêu thụ là do người khác phạm tội mà có nhưng do ham lợi bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng về hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, thấy cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5, bị cáo sử
dụng vào việc phạm tội nên tịch thu để sung công quỹ nhà nước. Số tiền 38.000 đồng thu giữ trên người của K, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Biển số xe 93F1-45914, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long
Thành tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Lê Quang K phải nộp lại số tiền
100.000 đồng, là tiền bị cáo phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị M
đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xét.
Về án phí: Bị cáo Lê Quang K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự
sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Lê Quang K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có”.
- Xử phạt bị cáo Lê Quang K 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ
ngày bị bắt ngày 03/3/2020.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5. Tiếp tục tạm
giữ số tiền 38.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo K để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/7/2020 giữa Công an
điều tra huyện Long Thành và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành,
Quyết định chuyển vật chứng số 75/QĐ-VKSLT ngày 24/6/2020 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện Long Thành).
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Buộc bị cáo Lê Quang K phải nộp lại số
tiền 100.000 đồng, là tiền do bị cáo phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị
quyết số 326/2016/UB.TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Quang K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Quang K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
chị Phan Thị M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai; - Viện KSND tỉnh Long Thành; - Viện KSND H. Long Thành; - THADS H. Long Thành; - Cơ quan điều tra CA H. Long Thành; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phụng |