vanban.org

Bản án 112/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 18/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Trường Gi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Vũ Trường Gi 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Trường Gi, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Trường Gi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Trường Gi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2020/HS-ST
Ngày: 18 - 11 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trác

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Nghị

2. Ông Tống Xuân Tú

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên toà: Bà Đào Duy Linh - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 11 năm 2020. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 110/2020/TLST-HS ngày 26/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2020/QĐXXST-HS ngày 05/11/2020 đối với bị cáo:

Vũ Trường Gi, sinh ngày 29 tháng 9 năm 1991 tại huyện Tha, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu 2x, thị trấn Th, huyện Th, tỉnh Phú Thọ; Tạm trú: Thôn T, xã Th, huyện H, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Vũ Đại Đ (đã chết) và bà Đặng Thị D, sinh năm 1969; Vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1992; Có 01 con sinh năm 2015. Nhân thân: Tháng 9/2010 tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam, đến tháng 01/2012 xuất ngũ. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/7/2020, chuyển tạm giam ngày 18/7/2020 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Vũ Văn S, sinh năm 1995

Địa chỉ: Khu 2x, thị trấn Th, huyện Th, tỉnh Phú Thọ

* Người làm chứng:

- Anh Trần Xuân B, sinh năm 1976

Địa chỉ: Thôn D, xã Th, huyện H, tỉnh Thái Bình

- Anh Trần Ngọc H, sinh năm 1974

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Th, huyện H, tỉnh Thái Bình

(Có mặt anh S; Anh B, anh H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 15/7/2020, tại đoạn đường liên thôn thuộc địa phận thôn T, xã Th, huyện H; Công an huyện Hưng Hà đã phát hiện, bắt quả tang Vũ Trường Gi có hành vi cất giấu trong lòng bàn tay trái 01 gói ma túy (hêrôin) có khối lượng 0,1269gam, mục đích sử dụng cho bản thân. Công an huyện Hưng Hà đã thu giữ, quản lý và niêm phong gói ma túy thu của Gi, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn quản lý, thu giữ của Gi 01 Chứng minh nhân dân mang tên Vũ Trường Gi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, biển kiểm soát 19K1-364.xx.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Trường Gi, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội

Bản kết luận giám định số: 267/KLGĐ-Pc09, ngày 16/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại hêrôin có khối lượng 0,1269 gam.

Bản cáo trạng số: 111/CT-VKSHH ngày 26 tháng 10 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đã truy tố Vũ Trường Gi về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới do đó đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như tại bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38; điều 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Trường Gi mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/7/2020; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng và không có tranh luận

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trước phiên tòa hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo Vũ Trường Gi đều khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 15/7/2020, có người đàn ông tên Tám ở xã H, huyện H bảo bị cáo góp 50.000 đồng để mua ma túy cùng sử dụng. Sau đó T đi mua ma túy về đưa cho bị cáo thì bị bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng anh Trần Xuân B, anh Trần Ngọc H; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn S. Ngoài ra còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang ; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; Bản kết luận giám định số 267/KLGĐ-PC09 ngày 16/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Như vậy có đầy đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Điều 249 BLHS: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

……………

c) Hêrôin, Cocain, Methamphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

………..

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả vụ án cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm, tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội, vì vậy pháp luật Nhà nước ta đã có những chế tài nghiêm khắc đối với loại tội phạm này nhằm hạn chế và tiến tới xóa bỏ ma túy khỏi đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,1269 gam hêrôin, như vậy đã phạm vào tình tiết quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy cần phải có hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo bị cáo nói riêng cũng như phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng xét bị cáo khai báo thành khẩn, có thời gian tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Bị cáo mục đích tàng trữ trái phép ma túy là để sử dụng cho bản thân, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai được người đàn ông tên T ở xã H bảo góp 50.000 đồng để mua ma túy cùng sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh ở thôn H, xã H, huyện H có anh Trần Văn Tám, sinh năm 1974. Tuy nhiên hiện nay anh T không có mặt ở địa phương, không ghi được lời khai. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định con người cụ thể đã đưa ma túy cho bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách ra tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau là phù hợp pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, biển kiểm soát 19K1-364.xx thu giữ của bị cáo. Qua điều tra xác định chiếc xe này là của anh Vũ Văn S, sinh năm 1995, địa chỉ: Khu 2x, thị trấn Th, huyện Th, tỉnh Phú Thọ, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đã trả lại cho anh S là đúng pháp luật.

Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Trường Gi, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo, xác định giấy tờ và tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số: 267/KLGĐ-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Vũ Trường Gi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; của Bộ luật hình sự. Xử phạt Vũ Trường Gi: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/7/2020.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại bị cáo Vũ Trường Gi 01 chứng minh nhân dân mang tên Vũ Trường Gi, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số: 267/KLGĐ-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Vũ Trường Gi phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ