vanban.org

Bản án 112/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn B có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền 16.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Nguyễn Việt S với ông Nguyễn Văn B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn B có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền 16.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2020/DS-ST
Ngày: 17-9-2020
V/v “tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Giang.

Ông Trần Minh Út.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 17 tháng 9 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 269/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 247/2020/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).

Cư trú tại: Khóm X, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Cư trú tại: Ấp T, xã R, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 6 năm 2020 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Việt S trình bày: Vào ngày 10 tháng 3 năm 2020 ông Nguyễn Văn B có vay của ông số tiền 14.740.000 đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận mỗi ngày 15.000 đồng/14.740.000 đồng, ông B có ký vào biên nhận nhận tiền, thời hạn thanh toán là ngày 10 tháng 4 năm 2020. Từ khi vay đến nay ông B không có trả

-1-tiền lãi cho ông, ông có liên hệ đòi nhiều lần nhưng ông B vẫn không trả. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B trả số tiền vốn vay 14.740.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 10 tháng 3 năm 2020 đến nay.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng ông B vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Việt S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn B trả tiền vay và lãi suất. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn B là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn B.

Tại phiên tòa ông S cho rằng ông Nguyễn Văn B có vay của ông số tiền 14.740.000 đồng, ông S yêu cầu ông B trả số tiền còn nợ 14.740.000 đồng. Đối với ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để hòa giải và xét xử nhưng ông B không cung cấp lời khai cho Tòa án và không có ý kiến đối với yêu cầu của ông S. Theo biên nhận ngày 10 tháng 3 năm 2020 và bản cam kết ngày 10 tháng 3 năm 2020 do ông S cung cấp có chữ ký của ông Nguyễn Văn B thể hiện ông B có vay của ông S số tiền 14.740.000 đồng nên ông S yêu cầu ông B trả số tiền 14.740.000 đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về lãi suất: Lãi suất thỏa thuận giữa ông S với ông B mỗi ngày 15.000 đồng/14.740.000 đồng, từ khi vay đến nay ông B không có trả lãi cho ông S. Tại phiên tòa ông S yêu cầu ông B trả lãi theo quy định của pháp luật. Xét thấy lãi suất thỏa thuận giữa ông S và ông B là cao hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Tại phiên tòa ông S yêu cầu ông B trả lãi theo quy định của pháp luật là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự quy định lãi suất các bên thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Lãi suất năm được tính là 20%, lãi tháng là 1,66%, lãi ngày là 0,055%. Ông B vay tiền của ông S ngày 10 tháng 3 năm 2020 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 17 tháng 9 năm 2020 là 06 tháng 07 ngày. Như vậy tiền lãi sẽ là (14.740.000đ x 06 tháng x 1,66%) + (14.740.000đ x 07 ngày x 0,055%) =

-2-1.524.853 đồng. Như vậy ông B có nghĩa vụ trả cho ông S tổng gốc và lãi với số tiền 16.264.853 đồng.

Về án phí: Do yêu cầu của ông Nguyễn Việt S được chấp nhận nên ông S không phải chịu án phí, ông S nộp tiền tạm ứng án phí 369.000 đồng được nhận lại. Ông Nguyễn Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 813.242 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự và áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn B có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền 16.264.853 đồng (mười sáu triệu hai trăm sáu mươi bốn ngàn tám trăm năm mươi ba đồng). Trong đó: tiền gốc là 14.740.000 đồng, tiên lãi là 1.524.853 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Về án phí:

Ông Nguyễn Việt S không phải chịu án phí, ông S đã nộp tiền tạm ứng án phí 369.000 đồng (ba trăm sáu mươi chin ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0011687 ngày 08 tháng 6 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; ông S được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc ông Nguyễn Văn B có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm là 813.242 đồng (tám trăm mười ba ngàn hai trăm bốn mươi hai đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Án xử sơ thẩm, ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự

-3-có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ