vanban.org

Bản án 112/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận cho chị Danh Thị Yến L được ly hôn với anh Trần Đình T.

Về con chung: Giao cháu cháu Trần Đình H, sinh ngày 04/8/2004 và cháu Trần Đình K, sinh ngày 07/4/2007 cho anh Trần Đình T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "DANH THỊ YẾN L - TRẦN HỒNG Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận cho chị Danh Thị Yến L được ly hôn với anh Trần Đình T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29-11-2019
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hà

Ông Phạm Đức Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Tiến - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện X xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2019 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Danh Thị Yến L, sinh năm: 1986

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Trần Đình T, sinh năm: 1983

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Danh Thị Yến L trình bày: chị và anh Trần Đình T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Đồng Nai, đây là kết hôn đầu của anh chị. Cuộc sống chung của anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T hay uống rượu và không quan tâm chị nên vợ chồng xảy ra cãi vã, xô xát nhau nhiều lầnc. Hiện nay, mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T .

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Trần Đình H, sinh ngày 04/8/2004 và cháu Trần Đình K, sinh ngày 07/4/2007. Hiện nay, cháu H và cháu K đang do anh T nuôi dưỡng nên chị đồng ý giao 02 con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có nợ chung.

- Bị đơn anh Trần Đình T đã được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án sơ thẩm. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn chị Danh Thị Yến L chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy Thụy tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Đình T không chấp hành các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy Thụy tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Danh Thị Yến L. Chị Danh Thị Yến L được ly hôn với anh Trần Đình T. Về con chung: Giao cháu cháu Trần Đình H, sinh ngày 04/8/2004 và cháu Trần Đình K, sinh ngày 07/4/2007 cho anh Trần Đình T trực tiếp nuôi dưỡng đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Linh. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Đình T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mă ăt lần thứ hai, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bô ă luâ ăt Tố tụng dân sự xét xử vắng mă ăt anh T là phù hợp.

Chị Danh Thị Yến L có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Thị Yến L và anh Trần Đình T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Chị Danh Thị Yến L khai cuộc sống chung của anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T hay uống rượu và không quan tâm đến chị nên vợ chồng xảy ra cãi vã nhau. Mâu thuẫn giữa chị L và anh T là có, đã được xác nhận tại biên bản xác minh ngày 23/10/2019 (bút lục 22). Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, cho thấy anh T thờ ơ, không muốn hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân của chị L và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là phù hợp với Điều 56 Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị L đồng ý giao cả hai con chung cho anh T nuôi dưỡng. Tòa án đã nhiều lần phối hợp cùng chính quyền địa phương đến nhà anh Trần Đình T nhằm gặp anh T, cháu H, cháu K để thu thập ý kiến của anh T đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nguyện vọng của các con chung muốn sống với anh T hay chị L, nhưng anh T và 02 con chung không có mặt ở nhà nên không thu thập được ý kiến của anh T, cháu H và cháu K. Xét thấy, chị L và chính quyền địa phương đều xác nhận hiện nay anh Trần Đình T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và cháu K, các con chung đang sống chung ổn định với anh T nên cần giao 02 con chung là Trần Đình H và cháu Trần Đình K cho anh Trần Đình T nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị L trình bày có tài sản chung nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.

Về nợ chung: Chị L trình bày anh chị không có nợ chung. Anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy, không giải quyết.

Về án phí: Chị L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận cho chị Danh Thị Yến L được ly hôn với anh Trần Đình T.

2. Về con chung: Giao cháu cháu Trần Đình H, sinh ngày 04/8/2004 và cháu Trần Đình K, sinh ngày 07/4/2007 cho anh Trần Đình T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

Anh Trần Đình T trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị Danh Thị Yến L.

Chị Danh Thị Yến L được quyền thăm nom con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh Trần Đình T.

Khi cần thiết, anh Trần Đình T và chị Danh Thị Yến L được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không giải quyết.

4. Về nợ chung: Không giải quyết.

5. Về án phí: chị Danh Thị Yến L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí chị Danh Thị Yến L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện X theo biên lai thu số 007263 ngày 22/3/2019 được tính trừ vào án phí.

Chị Danh Thị Yến L và anh Trần Đình T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ