vanban.org

Bản án 112/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đậu Thị H. Chị Đậu Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Phương V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
----------*----------
Bản án số: 112/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 19/04/2019
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy An.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Mỹ Trang.

2. Ông Đặng Bình Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Vĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 391/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2018 về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Đậu Thị H, sinh năm 19xx (xin vắng mặt).

Địa chỉ (HKTT): phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

Địa chỉ (tạm trú): khu phố A, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Nguyễn Phương V, sinh năm 19xx (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã K, huyện Đ, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện ngày 30/11/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án chị Đâu Thị H trình bày: Chị và anh V tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn ngày 28/10/2014 tại Ủy ban nhân dân xã K. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2014, thì phát sinh mâu thuẫn do anh H không lo làm ăn, thường hay tụ tập bạn bè uống rượu về nhà kiếm chuyện đánh chị. Vợ chồng ly thân từ cuối năm 2014 đến nay, không liên lạc hàn gắn tình cảm. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh V.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Phương Tấn H, sinh ngày xx/x/20xx và Nguyễn Phương Nhã Q, sinh ngày xx/x/20xx

. Ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Phương V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo quy định nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

* Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Và về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, chị H được ly hôn với anh V. Về con chung: Giao chị H tiếp tục nuôi hai con chung tên Nguyễn Phương Tấn H, sinh ngày xx/x/20xx và Nguyễn Phương Nhã Q, sinh ngày xx/x/20xx. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh V trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã K cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 150, ngày 28/10/2014 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp cần được xem xét giải quyết theo quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tố tụng: Anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Ngày 24/01/2019, chị H có Đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt anh V và chị H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H yêu cầu được ly hôn với anh V do anh V không lo làm ăn, vợ chồng hay cải nhau và anh V thường hay uống rượu về nhà kiếm chuyện đánh chị. Cho nên, vợ chồng chị đã ly thân từ cuối năm 2014 đến nay, không gặp nhau trao đổi hàn gắn tình cảm. Hiện nay, chị không còn tình cảm vợ chồng với anh V. Và theo Biên bản xác minh (bút lục 28) đối với Trưởng ấp C, xã K xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng chị H và anh V do anh V thường uống rượu, đánh đập vợ con. Hơn nữa, từ khi chị H xin ly hôn, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh V không đến Tòa để trình bày ý kiến, chứng tỏ anh V muốn bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình, không còn thiết tha hàn gắn tình cảm. Xét thấy, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng chị H và anh Vcó 02 con chung tên Nguyễn Phương Tấn H, sinh ngày xx/x/20xx và Nguyễn Phương Nhã Q, sinh ngày xx/x/20xx. Hiện nay, các con đang sống với chị H và chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung. Xét thấy, từ khi vợ chồng chị H ly thân từ năm 2014 đến nay, cháu H và cháu Q được chị H chăm sóc chu đáo và đảm bảo cho sự phát triển của cháu. Theo Biên bản xác minh (bút lục 28) đối với Trưởng ấp C, xã K cũng xác nhận anh V không có nghề nghiệp ổn định, thường hay uống rượu, vì vậy nên giao 02 con chung cho chị H nuôi dưỡng sẽ được chăm sóc tốt hơn. Còn anh V không đến Tòa trình bày ý kiến về con chung. Do đó, yêu cầu của chị H là có cơ sở, phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, giao cháu H và cháu Q cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét thấy, ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

*Xử:

- Về quan hệ hôn nhân:

+ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đậu Thị H.

+ Chị Đậu Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Phương V.

- Về con chung: Giao chị H tiếp tục nuôi hai con chung tên Nguyễn Phương Tấn H, sinh ngày xx/x/20xx và Nguyễn Phương Nhã Q, sinh ngày xx/x/20xx. Chị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 46017 ngày 05/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông. Như vậy, chị H đã nộp đủ án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, các đương sự được quyền kháng cáo bản án đến Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang để xét xử phúc thẩm. *Nơi nhận:

Cỡ chữ