vanban.org

Bản án 112/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S pha ̣m tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Áp dụng Khoản 3, Điều 104; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 74; Chương X của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc Sang 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 02 năm 2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự và Khoản 1,

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S pha ̣m tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 112/2017/HSST
Ngày: 12-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng T.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Quang T - Phó Bí thư thị đoàn thị xã Tân U, tỉnh B;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc A – Giáo viên hưu trí.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim L – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân U, tỉnh B.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân U, tinh̉ B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2017/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2017/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2017/QĐST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2017/QĐST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2017, đối vớ i bị cáo:

Họ và tên: Lê Ngọc S, sinh ngày 27-12-1997 (tên gọi khác: Rùa) tại tỉnh B; giới tính: Nam; nơi đăng ký NKTT: Khu phố Khánh Hòa, phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân U, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hoá: 6/12; con ông Lê Văn M, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 09-02-2017, bị cáo bị bắt tạm giam cho đến nay. Có mặt.

2. Người bị hại: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm: 1990; địa chỉ: Tổ 5, khu phố Khánh Lộc, phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân U, tỉnh B. Có mặt.

3. Người làm chứng:

- Ông Đặng Minh T, sinh ngày 20/5/1999; địa chỉ: Khu phố Bình Hòa 2, phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân U, tỉnh B. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Minh Q, sinh ngày 25/02/2000; địa chỉ: Khu phố Khánh Lộc, phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân U, tỉnh B. Vắng mặt.

Người giám hộ của ông Nguyễn Minh Q: Bà Huỳnh Kim P (mẹ Q); địa chỉ: Khu phố Khánh Lộc, phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh B. Vắng mặt.

- Ông Huỳnh Nhật T, sinh năm: 1989; địa chỉ: Khu phố Khánh Lộc, phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân U, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tà i liê ̣u có trong hồ sơ vụ á n và quá trinh xé t hỏi, tranh luận tại

̀ phiên toà , nội dung vụ á n được tó m tắ t như sau:

Đặng Minh T và Nguyễn Minh Q cùng là học sinh Trường THCS T; trong quá trình học chung giữa T và Q có mâu thuẫn với nhau.

Khoảng 11 giờ ngày 20-10-2014, biết Q chuẩn bị tan trường ra về nên T điện thoại rủ Lê Ngọc S đến khu vực gần cổng Trường THCS chờ Q ra để đánh nhau, S đồng ý. Sang điều khiển xe mô tô hiệu Sirius (không rõ biển số) chở T đến Trường THCS T. Khi cả hai vừa đi đến cổng trường thì nhìn thấy Q đang đứng ở khu vực phía trước cổng trường. Q cũng nhìn thấy S chở T đến sợ bị đánh nên Q dùng điện thoại gọi cho Nguyễn Hữu L là cậu ruột của Q nói đang bị T chặn đường đánh. Nghe vậy, L rủ Huỳnh Nhật T cùng đến Trường THCS T để đón Q về. Khi S và T nhìn thấy Q đứng cách cổng trường khoảng 20 mét thì S chở T lại vị trí Q đang đứng. T bước xuống xe và đi lại dùng tay nắm cổ áo Q định đánh. Ngay lúc này, L điều khiển xe mô tô biển số 61E1 - 148.49 chở T đi đến và nhìn thấy T nắm cổ áo của Q nên L dừng xe lại, xuống xe và chạy đến dùng tay đánh vào mặt của T 02 cái thì T bỏ chạy. Khi đó, S đứng cách vị trí của Q khoảng 02 mét nên L tiếp tục đi đến chỗ S đứng rồi dùng tay đánh vào mặt của Sang 02 cái. Do bị đánh, S dùng tay phải lấy con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 15 cm, cán dao màu đen, lưỡi dao màu trắng sắc nhọn mang theo sẵn và đang bỏ trong túi quần phía trước bên phải ra rồi đâm vào vùng bụng của L 01 cái gây thương tích rồi cầm dao chạy khỏi hiện trường, trên đường đi S vứt bỏ con dao dùng để đâm L. Riêng ông L được ông Huỳnh Nhật T đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh D cấp cứu và điều trị thương tích đến ngày 29-10-2014 thì xuất viện. Ngày 26-8-2015, ông L làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự gửi Công an phường T (BL 03). Công an phường T tiến hành thu giữ (BL 25):

- 01 (Một) áo sơ mi dài tay màu trắng, tay áo màu xanh, trên túi áo có dòng chữ URBAN RESEAR.

- 01 (Một) áo thun nam màu trắng, cổ áo màu xanh, trên túi áo có chữ PRADA, có nhiều vết màu đỏ trên áo không đều nhau, phía dưới áo có vết rách khoảng 0,5cm.

Công an phường Tân Phước K, lập hồ sơ ban đầu chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân U thụ lý theo thẩm quyền (BL 28, 29, 81, 82, 97, 98, 108, 109).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân U tiến hành truy tìm vật chứng là con dao bấm bằng kim loại dài khoảng 15 cm, cán dao màu đen, lưỡi dao màu trắng sắc nhọn mà S vứt bỏ trên đường chạy trốn, nhưng không có kết quả (BL 106).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 169/2016/GĐPY ngày 31/5/2016 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Bình D xác định Nguyễn Hữu L có thương tích: Vết thương hạ sườn trái 03 x 01 cm, sẹo lành, thấu bụng thủng đại tràng ngang, đã phẩu thuật khâu lổ thủng đại tràng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 42% (Bốn mươi hai phần trăm) (BL 40).

Về dân sự: Do gia đình của Lê Ngọc S khó khăn nên ông Nguyễn Hữu L không yêu cầu bị cáo Sang bồi thường thiệt hại (BL 102) .

Đối với Đặng Minh T có hành vi rủ Lê Ngọc S đến khu vực cổng Trường THCS T đánh Nguyễn Minh Q. T không biết khi đi S có mang theo dao bấm trong người, khi S dùng dao đâm Nguyễn Hữu L thì T đã rời khỏi hiện trường, việc S dùng dao đâm bị hại L không có bàn bạc với T nên hành vi của T không đồng phạm với S về tội Cố ý gây thương tích. Tuy nhiên, sự việc đánh nhau xảy ra tại khu vực trước cổng Trường THCS T là nơi công cộng, lúc học sinh tan trường rất đông người, hậu quả Nguyễn Hữu L bị gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 42% nên vụ việc ảnh hưởng xấu tại địa phương, vì vậy hành vi của T đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng. Nhưng tại thời điểm có hành vi gây rối trật tự công cộng T chưa đủ 16 tuổi nên không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự, Công an thị xã Tân U đã có công văn gửi Công an phường Tân Phước K đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương đối với Đặng Minh T.

Tại Cáo trạng số: 91/QĐ-KSĐT ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân U truy tố bị cáo Lê Ngọc S về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng Khoản 3 Điều 104; Điểm p Khoản 1, 2 Điều 46, Điều 74 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc S mức án từ 05 năm đến 06 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Do không có yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp du ̣ng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, tay áo màu xanh, trên túi áo có dòng chữ URBAN RESEAR;

- 01 (một) áo thun nam màu trắng có cổ màu trắng xanh, trên túi áo có chữ PRADA, có nhiều vết màu đỏ trên áo không đều nhau, phía dưới áo có vết rách khoảng 0,5cm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian tạm giam bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo sai trái vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ XÉT THẤY:

[1] Về thủ tu ̣c tố tụng: Bi ̣ cáo thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i trên đi ̣a bàn thi ̣ xa Tân U, tĩ

nh B. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thi ̣̉

xa Tân U khỡ

̉ i tố vu ̣ án, khở i tố bi ̣ can đối vớ i Lê Ngọc S là đúng thẩm quyền.

Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thi ̣ xa Tân U, Điều tra viên, Viê ̣̃

n Kiểm sát nhân dân thi ̣ xã Tân U và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền, trinh tự, thủ

̀ tu ̣c quy đi ̣nh của Bô ̣ luật Tố tụng hinh sự. Quá trình điều tra và ta ̣i phiên tòa, bi ̣

̀

cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tụng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiện đều hợp pháp.

[2] Về tinh tiết định tô ̣i, đi ̣nh khung hinh pha ̣t: Tại phiên tòa, bị cáo Lê

̀

̀

Ngọc S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 20 tháng 10 năm 2014, tại khu phố Khánh Lộc, phường Tân Phước K, thị xã Tân U, tỉnh B Lê Ngọc S sử dụng dao bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng hạ sườn trái gây thương tích cho người bị hại là 42 % (bốn mươi hai phần trăm).

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chi ̣u trách nhiê ̣m hinh sự. Bị cáo đã sử dụng dao bằng kim loại đây là hung khí nguy hiểm (theo ̀ hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao) gây thương tích cho người bị hại 42% đây là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại Khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự.

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

……….

2. …….

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. ……”.

Do đó, Cáo trạng đã truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân U cũng như kết luận của đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự.

[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; người bị hại xin giảm nhẹ hình phát đối với bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu.

[6] Căn cứ quyết định hinh pha ̣t: Hành vi phạm tội bị cáo là nguy hiểm

̀ cho xã hội, không những xâm phạm trái phép đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà gây mất an ninh trật tự tại nơi xảy ra vụ án. Tuy nhiên, khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa thành niên nên áp dụng Chương X của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Đồng thời đối chiếu các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, xét thấy mức án đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, tay áo màu xanh, trên túi áo có dòng chữ URBAN RESEAR và 01 (một) áo thun nam màu trắng có cổ màu trắng xanh, trên túi áo có chữ PRADA, có nhiều vết màu đỏ trên áo không đều nhau, phía dưới áo có vết rách khoảng 0,5cm là tài sản của người bị hại. Tại phiên tòa người bị hại không yêu cầu nhận lại vì không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S pha ̣m tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 3, Điều 104; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 74; Chương X của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc Sang 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 02 năm 2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự và Khoản 1,

̀ Điểm a, Khoản 2, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, tay áo màu xanh, trên túi áo có dòng chữ URBAN RESEAR;

- 01 (một) áo thun nam màu trắng có cổ màu trắng xanh, trên túi áo có chữ PRADA, có nhiều vết màu đỏ trên áo không đều nhau, phía dưới áo có vết rách khoảng 0,5cm.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 7 năm 2017 giữa Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã Tân U với Công an thị xã Tân U).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 98, 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, buộc bi ̣ cáo Lê Ngọc S nộp 200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân U.

Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ