- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lục Mimh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lục Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 112/2017/HSST Ngày : 12/7/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Minh Tuân
2/ Ông Nguyễn Văn Bình
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 131/2017/HSST ngày 13 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: LỤC MINH T; giới tính: nam; sinh năm: 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 337/20/12 Đườ ng Z, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 337/20/12 Đườ ng Z, phường B, quâ ̣n T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; con ông: Lục Văn S và bà Trần Thị N; vợ: Nguyễn Thùy T; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án,tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: 22/11/2016.
(Có mặt tại phiên tòa)
Ngườ i bào chữa cho bi ̣ cáo: Luật sư Nguyễn Ngọc Lâm – Luâ ̣t sư thuô ̣c Đoàn Luâ ̣t sư tinh Quả
̉ng Ngaĩ
(Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Bá C
Địa chỉ: Số 72 Đường số 7, Khu phố 3, phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí
Minh.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NHẬN THẤY:
Bị cáo Lục Minh T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Binh truy tố về hành vì phạm tội như sau:
Khoảng 19h30’ ngày 22/11/2016, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Tân Bình, phát hiê ̣n Lục Minh T đang dừng xe gắn máy biển số 59L2-110.89 trước chỗ giữ xe khách sạn Tân Sơn Nhì - số 12 đường Hoàng Hoa Thám, phường 12, quận Tân Bình, nên đa tiến hã
̀nh kiểm tra, kết qủa :
- Thu trong túi áo sơ mi phía trước bên trái T đang mặc có hai gói nylon chứa tinh thể không màu. Kết quả giám định tại Phòng kỹ thuật hình sự PC54 Công an Thành phố Hồ Chí Minh, chất tinh thể không màu cân nặng 22,3914 gram là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (MA).
- Thu trong túi áo sơ mi phía trước bên phải T đang mặc có mô ̣t gói nylon chứa tinh thể không màu. Kết quả giám định tại Phòng kỹ thuật hình sự PC54 Công an Thành phố Hồ Chí Minh, chất tinh thể không màu cân nặng 15,0692 gram là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (MA).
- Thu dưới yên xe máy biển số: 59L2-110.89, 01 bao thuốc hiệu Jet bên trong có một gói nylon chứa tinh thể không màu. Kết quả giám định tại Phòng kỹ thuật hình sự PC54 Công an Thành phố Hồ Chí Minh, chất rắn tinh thể không màu cân nặng 0,3009 gr là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (MA).
- 01 điện thoại di động Nokia màu đen; số tiền 1.000.000 đồng; 01 xe gắn máy biển số 59L2-110.89 (biển số giả).
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lục Minh T số 337/20/12 Đườ ng Z, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả thu giữ: 01 cân điện tử; 05 bịch nylon; 01 CMND tên Lục Minh T.
Qúa trình điều tra Lục Minh T thừa nhận bản thân nghiện ma túy đá và đa thự̃
c hiê ̣n bán ma túy đá được khoảng 2 tháng. Nguồn ma túy T mua của đối tượng không rõ lai lịch ở Quận 08, trung bình 01 hộp 10 ma túy đá mua giá 3.800.000 đồng, T bán lại cho con nghiện giá 4.700.000 đồng, lời được 900.000 đồng. Khoảng 17h ngày 22/11/2016 có một phụ nữ tên Ty (không rõ lai lịch địa chỉ) liên hệ T qua số điện thoại 0938549001 hỏi mua 03 hộp 10 ma túy đá, T báo giá 13.000.000 đồng và hẹn địa điểm giao nhận mua bán ma túy tại khách sạn Tân Sơn Nhì - số 12 Hoàng Hoa Thám, quận Tân Bình. Sau đó T liên lạc với người đàn ông ở Quận 8 hỏi mua 03 hộp 10 ma túy đá giá 12.000.000 đồng nhưng khi nào bán được ma túy cho con nghiện mới trả tiền. T nhờ người đàn ông bán ma túy bớt một ít ma túy đá bỏ vào 01 gói nhỏ cho T sử dụng. Sau khi mua được số ma túy nói trên, T cất 02 gói ma túy đá vào túi áo sơ mi phía trước bên trái và 01 gói ma túy đá trong túi áo sơ mi bên phải, còn gói nylon ma túy nhỏ T bỏ vào gói thuốc lá Jet để dưới yên xe máy rồi chạy đến khách sạn nêu trên để gă ̣p đối tượng mua ma tú y, nhưng chưa gă ̣p thì bị kiểm tra bắt giữ.
T khai nhận đa bán ma túy cho đối tượng Ty được 04 lần (tính luôn lần bị bắt quả̃ tang) trong 02 tháng mua bán ma túy T thu lợi được khoảng 2.700.000 đồng.
Qúa trinh điều tra không xà
́c đi ̣nh được đối tượng bán ma tú y cho T cũng như không xác đi ̣nh được đối tượng tên Ty hỏi mua ma tú y của T nên không có căn cứ để xử lý cũng như để xác đi ̣nh T pha ̣m tô ̣i nhiều lần.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 09 tháng 6 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Lục Minh T về tô ̣i “Mua bán phép chất ma túy theo điểm m, khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lục Minh T về tô ̣i “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm m, khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 7 năm đến 8 năm tù .
Ngườ i bào chữa cho bi ̣ cáo trinh bà
̀y: Thống nhất vớ i Viê ̣n kiểm sát về tô ̣i danh và điều luâ ̣t truy tố bi ̣ cáo. Tuy nhiên, xét thấy mứ c án Viê ̣n kiểm sát đề nghi ̣ đối vớ i bi ̣ cáo có phần nă ̣ng nên đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử , xem xét thêm các tinh tiết sau đây để già
̉m hinh̀ pha ̣t cho bi ̣ cáo: Bi ̣ cáo pha ̣m tô ̣i lần đầu, hoàn cảnh gia đinh khò
́ khăn, bi ̣ cáo là lao đô ̣ng chinh, bá
̉n thân bi ̣ cáo có thờ i gian tham gia nghia vu ̣̃
quân sự. Xét thấy bi ̣ cáo có các tinh̀ tiết giảm nhe ̣ quy đi ̣nh ta ̣i điểm p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀
năm 1999 sử a đổi bổ sung năm 2009 nên đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử áp du ̣ng Điều 47 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự
̀ để cho bi ̣ cáo hưở ng mứ c án dướ i khung, đề nghi ̣ xử pha ̣t bi ̣ cáo từ 5 đến 6 năm tù.
Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát tranh luâ ̣n: Viê ̣c ngườ i bào chữa đề nghi ̣ áp du ̣ng tình tiết giảm nhe ̣ quy đi ̣nh ta ̣i điểm h khoản 1 Điều 46 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀
năm 1999 đối vớ i bi ̣ cáo là không có căn cứ vi bi ̣̀ cáo pha ̣m tô ̣i rất nghiêm tro ̣ng. Các tinh tiết già
̉m nhe ̣ khác cũng đa ̃ được Viê ̣n kiểm sát xem xét khi đề nghi ̣ mứ c hinh pha ̣̀
t nên đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử cân nhắc khi nghi ̣ án.
Sau khi Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát phát biểu, ngườ i bào chữa cho bi ̣ cáo không tranh luâ ̣n thêm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
XÉT THẤY:
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo tra ̣ng của Viện kiểm sát đã truy tố và khai: bản thân nghiện ma túy nên khi đối tượng tên Ty hỏi mua ma tú y bi ̣ cáo đa mua về bã
́n la ̣i để kiếm lờ i, cu ̣ thể khi Ty hỏi mua thi bi ̣̀ cáo ra khu vực Quâ ̣n 8 tìm mua ma tú y rồi đem về bán la ̣i cho Ty, tinh đến ngá
̀y bi ̣ bắt bi ̣ cáo đa bã ́n ma tú y được khoảng 2 tháng và chi bả ́n cho Ty. Tổng cô ̣ng đa bã ́n cho Ty trót lo ̣t 3 lần, lần thứ tư chưa ki ̣p bán thi bi ̣̀ bắt. Trong 3 lần bán ma tú y thu lợi được 2.700.000 đ, số tiền này bi ̣ cáo đa mua ma tũ
́ y sử du ̣ng và tiêu xài hết.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xét hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, căn cứ kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, căn cứ các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự quy định. Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Lục Minh T đã pha ̣m vào tô ̣i “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm m, khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 như cáo tra ̣ng của Viê ̣n kiểm sát đa truy tỗ
́.
Hành vi cất giữ ma tú y nhằm mục đích mua bán của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.
Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo biết tác hại của việc sử dụng, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy và biết pháp luật trừng trị rất nghiêm khắc loại tội phạm ma túy, nhưng do coi thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Đối vớ i bi ̣ cáo, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy cần xử mức án phù hợp mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời để tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ việc sử dụng ma túy.
Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về dân sự: Ta ̣i cơ quan điều tra và ta ̣i phiên tòa bị cáo khai đã bán ma túy khoảng 02 tháng thu lợi được 2.700.000đ. Tuy nhiên, xét thấy ngoài lờ i khai của bi ̣ cáo thi không̀ có tài liê ̣u chứ ng cứ nào chứ ng minh bi ̣ cáo đa bã ́n trót lo ̣t 3 lần cho tên Ty, thu lợi được 2.700.000đ, do đó không có căn cứ để truy cứ u bi ̣ cáo về hành vi pha ̣m tô ̣i nhiều lần, cũng như thu lợi được số tiền 2.700.000 đ để từ đó buô ̣c bi ̣ cáo nô ̣p la ̣i số tiền thu lợi bất chính.
Về vật chứng:
- Đối với 03 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Mạnh C ghi số 35 (bên trong là số ma túy còn lại sau giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối vớ i 01 điện thoại di động Nokia màu đen, số imei: 356691053328874 (kèm pin và sim) của bị cáo T. Là tài sản bi ̣ cáo dù ng vào viê ̣c pha ̣m tô ̣i nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối vớ i số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) do Công an thu giữ củ a bi ̣ cáo. Qúa trinh điều tra xà
́c đi ̣nh là tài sản của bi ̣ cáo, không liên quan đến hành vi pha ̣m tô ̣i nên Hô ̣i đồng xét xử thống nhất trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Exciter, biển số 59L2-110.89, số máy: G3D4E160342, số khung: RLCUG0610FY147786 do Công an thu giữ khi bắt bị cáo. Bị cáo khai mượn của bạn tên T2 không rõ lai lịch và không biết nguồn gốc xe. Qua xác minh xác đi ̣nh biển số 59L2-110.89 gắn trên xe thu giữ là biển số giả. Chiếc xe thu giữ có biển số thật là 59X1-619.16 do anh Trần Bá C đứng tên đăng ký. Ngày 19/05/2016, gia đình anh C bị trộm cạy cửa vào nhà lấy cắp hai xe gắn máy gồm: 01 xe Exciter biển số 59X1-619.16 và 01 xe máy hiệu Honda Airblade biển số 55X2-1795. Anh C đa trĩ nh bà
́o và Công an phường Phước D, Quận E lập hồ sơ chuyển Công an Quận E thụ lý giải quyết. Sau khi nhâ ̣n được kết qủ a xác minh Công an quận Tân Bình đã ra thông báo và chuyển giao vật chứng là chiếc xe máy có số máy: G3D4E160342, số khung: RLCUG0610FY147786 nêu trên cho Công an Quận E thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
- Đối với 01 cân điện tử màu trắng xanh; 05 bịch nylon là dụng cụ liên quan đến hành vi pha ̣m tô ̣i, không còn giá tri ̣ nên tich thu tiêu hủy;
- Đối với 01 CMND số 024025104 là giấy tờ cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối vớ i trinh bà
̀y bào chữa của Luâ ̣t sư : Hô ̣i đồng xét xử xét thấy viê ̣c Luâ ̣t sư đề nghi ̣ áp du ̣ng tinh già
̉m nhe ̣ quy đi ̣nh ta ̣i điểm h khoản 1 điều 46 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự̀
năm 1999 sử a đổi bổ sung năm 2009 đối vớ i bi ̣ cáo là không có căn cứ vi như Viê ̣n kiểm sát đa phã
́t
̀ biểu tranh luâ ̣n, về các nô ̣i dung khác Hô ̣i đồng xét xử đa xem xẽ
́t và đa nêu trong phầñ xét thấy. Do đó Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n mô ̣t phần trinh bà
̀y, bào chữa của Luâ ̣t sư.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lục Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
Xử phạt: LỤC MINH T 7 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt ta ̣m giữ, ta ̣m giam: 22/11/2016.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Lục Minh T số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng).
Ti ̣ch thu sung quỹ Nhà nướ c 01 điện thoại di động Nokia màu đen, số imei: 356691053328874 (kèm pin và sim) (tình trạng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 09/PNK ngày 29/11/2016 của Công an quận Tân Bình).
Tịch thu tiêu hủy: 03 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Mạnh C ghi số 35 (bên trong là số ma túy còn lại sau giám định); 01 cân điện tử màu trắng xanh; 05 bịch nylon (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 37/PNK ngày 28/12/2016 và 09/PNK ngày 29/11/2016 của Công an quận Tân Bình).
Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phi vá ̀ lê ̣ phi Tó ̀a án:
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).
Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định tại điều 26 Luật Thi hành án (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận : - Bị cáo; người liên quan; - Công an quận Tân Bình; - VKS QTB, VKS TPHCM ; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - TAND TP Hồ Chí Minh; - Phòng PC27, Sở Tư pháp TPHCM; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đa kỹ ́ ) Nguyễn Văn Trí |