vanban.org

Bản án 111A/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 09/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/6/2023. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:111A/2023/HS-ST
Ngày 09-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Vũ Minh Đón

Thư ký phiên toà: Ông Đào Tiến Đạt - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Tạ Hoàng Minh Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 09/11/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 107/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết), con bà Đồng Thị T1; có vợ là Trần Thị D và có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 10/8/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Y xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, chấp hành xong ngày 30/8/2016; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt.

Người chứng kiến: Anh Phạm Văn P, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 26/6/2023, tại khu vực chợ Đ thuộc thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an xã Đ phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn L, sinh năm 1976, nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Thu trên tay của Nguyễn Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 pro màu đen, trong chiếc điện thoại này có lắp thẻ sim nhãn hiệu Viettel, trên thẻ sim có ghi dãy số: 8984.0488.4100.3858.063 (niêm phong ký hiệu ĐT), điện thoại này có ốp da gập màu đen, bên trong vỏ ốp này có 01 gói giấy màu trắng kích thước (2x1)cm, trong có chứa chất dạng cục bột màu trắng (niêm phong ký hiệu M1). Cùng ngày, Công an xã Đ đã chuyển hồ sơ cùng các vật chứng và Nguyễn Văn L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 26/6/2023, L đang đi lang thang trên đường thôn X, xã T thì gặp Vũ Đức D, sinh năm 1978, trú tại: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu xanh (không treo biển kiểm soát), do L và D là bạn quen biết qua xã hội, cũng là người nghiện ma túy loại Heroine và biết được nơi mua ma túy nên L đã gọi và hẹn D chiều cùng ngày qua nhà L đón để cả hai cùng đi mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, D điều khiển xe mô tô nêu trên đến cổng nhà L đón L đi đến khu vực xã D1, huyện K1, tỉnh Hưng Yên để mua ma túy về cùng sử dụng. Khi đến trục đường ngã ba thuộc xã D1, huyện K1, D đỗ xe mô tô để L xuống xe đứng đợi còn D điều khiển xe mô tô đi tìm mua ma túy. Đi được khoảng 05 phút thì D quay về nói với L: “thằng bán không có nhà”, ý D nói không mua được ma túy do đối tượng bán ma túy không có ở nhà, thì L đáp: “đi tìm chỗ khác để mua”, ý L bảo D tìm chỗ khác bán ma túy để cả hai cùng đi mua. Sau đó, D tiếp tục điều khiển xe mô tô chở L đi đến quán nước của anh Phạm Văn P, sinh năm1980, trú tại Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên ở gần chợ Đ thuộc địa phận thôn C, xã Đ, huyên Y, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, D bảo L vào ngồi uống nước để D đi tìm chỗ mua ma túy. Khoảng 15 phút sau thì D điều khiển xe mô tô quay lại quán nước, gọi L ra ngoài và đưa cho L 01 gói giấy màu trắng kích thước (2x1)cm, bên trong có chứa chất màu trắng, dạng cục bột và D bảo L đợi để D đi mua xilanh kim tiêm rồi quay lại đón cả hai cùng đi sử dụng ma túy nên L đồng ý. Cầm gói giấy nêu trên, L nắn biết bên trong là ma túy nên đã cất giấu vào bao da ngăn vỏ ốp gập màu đen của điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 pro mà L đang sử dụng để đợi D thì bị Công an xã Đ kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ các vật chứng nêu trên.

Ngày 26/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn L ở thôn X, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên và chỗ ở của Vũ Đức D ở thôn T, xã T, Y, tỉnh Hưng Yên. Kết quả: Đều không phát hiện, thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Kết quả xét nghiệm ngày 26/6/2023 xác định: Nguyễn Văn L dương tính với chất ma túy, loại Heroine.

Tại bản Kết luận giám định số 405/KL-KTHS(MT) ngày 29/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối L là: 0,296g, là ma túy, loại: Heroine.

Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 pro màu đen, bên trong có thẻ sim nhãn hiệu Viettel ghi dãy số: 8984.0488.4100.3858.063, có vỏ ốp da gập màu đen xác định là tài sản của Nguyễn Văn L dùng để cất giấu ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã nhập kho vật chứng đối với tài sản này cùng mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 01 phong bì niêm phong ghi số 405/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,285g ma túy Heroine; 01 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định chờ xử lý.

Đối với Vũ Đức D: theo L khai D là người đã mua số ma túy nêu trên đưa cho L cầm để cùng nhau sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và cho đối chất giữa L và D nhưng không có căn cứ để xử lý đối với Vũ Đức D.

Quá trình điều tra, L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Cáo trạng số 111/CT-VKS-YM ngày 29/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồi xét xử, tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/6/2023, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an xã Đ lập ngày 26/6/2023; Bản kết luận giám định số 405/KL-KTHS (MT) ngày 29/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 26/6/2023, tại thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,296 gam ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Đ, huyện Y phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng đều bị pháp luật cấm, nhưng do nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố ý tàng trữ 0,296 gam ma tuý loại Heroin với mục đích để sử dụng.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn L là nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì thấy: Bị cáo L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn Khán được tặng thưởng Huân Huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2010 bị Toà án nhân dân huyện Y xét xử về tội phạm ma tuý.

Về quyết định hình phạt: Bị cáo đã bị xét xử về nhóm các tội phạm về ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt nghiêm để đảm bảo tính giáo dục và răng đe. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, với mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo L là đối tượng nghiện ma tuý, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro mầu đen L dùng để cất giấu Heroin nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/6/2023.

4. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong mẫu hoàn lại sau giám định được niêm phong ghi ký hiệu số 405/KL-KTHS (MT), ngày 29/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên. Bên trong có 0,285g ma tuý, loại Heroin trong niêm phong ký hiệu M1.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro mầu đen, bên trong có lắp 01 thẻ sim Viettell có dẫy seri: 8984.0488.4100.3858.063, có vỏ ốp da gập mầu đen, được niêm phong và ký hiệu: ĐT.

(Vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Y, tỉnh Hưng Yên theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02/10/2023).

5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Hưng Yên;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Công an huyện Y;

- Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;

- Chi cục THA DS huyện Y;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án./.

Đào Thị Thu Hương CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ