- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Hồng P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2019/HS-PT Ngày : 13 – 11- 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Ngọc Sơn
Các Thẩm phán:
1. Ông Trần Minh Hải
2.Ông Đào Chí Keo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhuần – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2019/TLPT-HS ngày 09/9/2019 đối với bị cáo Trịnh Hồng P do có kháng cáo của Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2019/HSST ngày 26/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Bị cáo bị kháng cáo, kháng nghị:
Trịnh Hồng P, sinh năm 1993 tại thành phố C; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp V, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trịnh Cao N, sinh năm 1972 và bà Lương Thị H sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án tiền sự: Chưa.
Bị cáo không kháng cáo, hiện đã thi hành án theo Quyết định thi hành án số 126/2019/QĐ-CA ngày 30/8/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Văn T, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 16/10/2018, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh An Giang phối hợp với Công an thành phố Long Xuyên tuần tra trên Quốc lộ 91. Khi đến quán cà phê HN, tổ 7, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang phát hiện Phạm Văn T có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên mời về Công an phường Mỹ Thới để xét nghiệm nước tiểu, kết quả T dương tính với Methamphetamine. Công an thu giữ của T gồm: 01 nón bảo hiểm màu xanh có chữ PIAGGIO; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen màn hình cảm ứng bị nứt phía trên bên phải; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen loại bàn phím; 01 bóp da màu đen; 02 chứng minh nhân dân tên Phạm Văn T; 01 Giấy phép lái xe tên Phạm Văn T; 01 Giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thị Thùy L; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 29M8-5751 tên Nguyễn Trung H; tiền Việt Nam 5.950.000 đồng; 06 chìa khóa.
Khoảng 16 giờ 20 phút 16/8/2019, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh An Giang phối hợp với Công an thành phố Long Xuyên kiểm tra hành chính Trịnh Hồng P đang đứng cạnh xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nho biển số 61C1-058.20 dựng trước cửa quán cà phê HN, tổ 7, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Kiểm tra nón bảo hiểm màu đen, có ba sọc xanh ghi chữ MONSTER do P đang đội phát hiện phía trong 01 khẩu trang y tế màu xám, bên trong có 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng, P khai là ma túy đá của T đưa cho P nên Công an lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ của P: 01 gói nilon có rãnh kẹp viền đỏ chứa tinh thể màu trắng, 01 khẩu trang y tế màu xám; 01 miếng bọc nilon màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đen có ba sọc xanh, có chữ MONSTER; 01 bóp da có in hình tiền đô la, 260.000 đồng; 01 thẻ căn cước công dân tên Trịnh Hồng P; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh loại bàn phím; 01 xe mô tô hiệu Honda Dream màu nho biển số 61C1-05820.
Đến khoảng 20 giờ ngày 16/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên khám xét khẩn cấp nơi ở của Trịnh Hồng P và Phạm Văn T tại căn nhà không số, khu vực Thới Bình, phường T, quận T, thành Phố Cần Thơ phát hiện thu giữ vật chứng như sau:
Thu giữ tại phòng số 01: 01 bình nhựa màu vàng có nắp đậy, trên nắp có gắn 01 đoạn ống nhựa và 01 đoạn ống thủy tinh; 01 gói nilon có rãnh kẹp viền màu xanh, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong ký hiệu gói 1); 01 quẹt gas bị hỏng, bên trong có 02 xúc sắc màu xanh, phần đầu quẹt gas có gắn 01 đoạn kim loại màu trắng; 01 bình nhựa có nắp đậy, trên nắp có gắn 01 đoạn ống thủy tinh có dầu gù tròn và 01 đoạn ống nhựa màu xanh có dây kéo; 01 kéo kim loại màu trắng; 01 con dao cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 03cm; 10 gói nilon một đầu dán keo có dòng chữ màu đỏ, chưa qua sử dụng.
Thu giữ tại phòng số 2: 01 điện thoại Nokia màu đen; 01 hộp giấy màu đen có chữ COUGAR; 01 hộp giấy màu xanh có chữ Kim Cương; 03 gói nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng, gồm: 01 gói hàn kín ghi số 12; 01 gói có rãnh kẹp, viền màu đỏ ghi số 50; 01 gói có rãnh kẹp, viền màu đỏ ghi số 5865 (được niêm phong ký hiệu gói 2); 01 hộp giấy màu xanh bạc có chữ Bấm Kim; 01 cân điện tử màu đen có chữ Amput; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng dài 10cm có đầu cắt nhọn; 01 cuộn băng keo nhựa màu đen; 01 cặp da màu đen hiệu Long Hai; 01 bọc xốp màu đen bị rách; 30 đoạn ống thủy tinh; 100 vỏ bao nilon có rãnh kẹp, viền màu xanh nhiều kích cỡ chưa qua sử dụng; Thu giữ tại khu vực bếp: 01 xe mô tô biển số 67F6-9787, số máy 152M12003601.
Phiếu xét nghiệm ngày 16/10/2018 của Trung tâm Y tế thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang ghi nhận: Phạm Văn T, Trịnh Hồng P dương tính với Methamphetamine.
Các Kết luận giám định số 702/KLGT-PC09 ngày 19/10/2018, số 703/KLGT-PC09 ngày 24/10/2018, số 03/KLGT-PC09 ngày 22/01/2019, số 12/KLGT-PC09 ngày 22/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, xác định:
01 hộp được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Mỹ Thới và các chữ ký ghi tên Huỳnh Trung Tín, Nguyễn Văn Thét, Trịnh Hồng P, Trần Nhân Huệ bên trong có 01 gói nilon có rãnh kẹp viền đỏ chứa tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 19,9643 gam;
Gói 1 được niêm phong có in dấu tròn màu đỏ của Công an phường Thới Thuận, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ và các chữ ký ghi tên Trịnh Hồng P, Lê Hoàng Triệu, Trần Thanh Hồng, Hồ Công Nho, Đinh Công Đức. Bên trong có 01 gói nilon có rãnh kẹp viền xanh chứa tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 0,3609 gam;
Gói 2 được niêm phong có in dấu tròn màu đỏ của Công an phường Thới Thuận, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ và các chữ ký ghi tên Trịnh Hồng P, Lê Hoàng Triệu, Trần Thanh Hồng, Hồ Công Nho, Đinh Công Đức. Bên trong có: 01 gói nilon ghi số 12 chứa tinh thể màu trắng và 01 gói nilon có rãnh kẹp viền đỏ ghi số 5865 màu xanh chứa tinh thể màu trắng, gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có tổng khối lượng: 57,8119 gam; 01 bọc nilon có rãnh kẹp viền đỏ ghi số 50 chứa tinh thể màu trắng, gửi đến giám định không phải là ma túy, có khối lượng 4,5596 gam;
Xe mô tô màu nâu, biển số 61C1-058.20 có số khung LLCLXL30-Y00006001; số máy LC150FMG 00705040. Số khung không bị đục sửa, số máy bị cắt hàn; Xe mô tô màu xanh, biển số 67F6-9787, không có số khung, số máy 152FM12000360. Số khung, số máy không bị đục sửa.
Các Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 08/11/2018, 22/4/2019 của Phòng Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh An Giang, xác định:
Xe mô tô biển số 61C1-058.20; màu xanh, nhãn hiệu WAMEM; chủ xe tên Đặng Tấn Giàu; địa chỉ: Số 25/12, khu phố Bình Phú, phường Bình Chuẩn, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; số máy 117521; số khung 117521; đăng ký lần đầu ngày 23/6/2010; biên số cũ 61Z3-6917; đăng ký mới ngày 15/4/2011;
Xe mô tô biển số 67F6-9787; màu đen; nhãn hiệu MINGXING; chủ xe tên Lý Thanh Tùng; địa chỉ: Số 39/7B, khóm Đông Thịnh 1, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; số máy 0069009; số khung 0030040;
Không tìm thấy dữ liệu tra cứu theo chỉ tiêu tìm kiếm số máy 152FM12000360.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 28/5/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Trịnh Hồng P về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2019/HSST ngày 26/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã quyết định:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Hồng P 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2018.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng; án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trịnh Hồng P không kháng cáo.
Ngày 07/8/2019 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T kháng cáo đối với phần xử lý vật chứng, yêu cầu được nhận lại số tiền 5.950.000 đồng và các đồ dùng, giấy tờ cá nhân.
Ngày 08/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số 61/2019/HSST ngày 26/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên về phần xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vụ án theo hướng trả tiền, nón bảo hiểm, giấy chứng minh nhân dân cấp ngày 06/4/2011 và giấy phép lái xe cho Phạm Văn T. Đồng thời tịch thu tài sản liên quan đến hành vi phạm tội, tiêu hủy các vật dụng không có giá trị sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phần thủ tục, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại tòa giữ nguyên kháng nghị số 02/VKS-HS ngày 08/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên.
Bị cáo Trịnh Hồng P không có ý kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T vắng mặt.
Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo, Quyết định kháng nghị: Kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên và kháng cáo của người liên quan Phạm Văn T trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo và kháng nghị để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Án sơ thẩm xét xử về phần tội danh, hình phạt và vật chứng thu giữ của bị cáo Trịnh Hồng P là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, qua xem xét vụ án thì thấy, từ giai đoạn điều tra đến tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trịnh Hồng P khai số ma túy trong nón bảo hiểm và thu tại phòng trọ số 02 là của Phạm Văn T nhưng T không thừa nhận, ngoài lời khai của P thì không có cơ sở chứng minh cho hành vi phạm tội của T nên Cơ quan điều tra đã tách vụ án hình sự, tách hành vi của T để tiếp tục điều tra để xử lý sau nhưng không tách phần vật chứng liên quan đến T. Ngày 26/7/2019 Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên đã xét xử hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Hồng P, xử lý vật chứng liên quan đến P, tiếp tục tách phần vật chứng liên quan đến Phạm Văn T để xử lý riêng. Ngày 07/8/2019 Phạm Văn T kháng cáo đối với phần vật chứng, đồng thời yêu cầu được nhận lại số tiền 5.950.000 đồng và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên cũng đã kháng nghị về phần xử lý vật chứng. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử tội danh, hình phạt và xử lý vật chứng liên quan đến bị cáo P là đúng nhưng tách phần vật chứng của Phạm Văn T để xử lý giải quyết sau là chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không giải quyết triệt để vụ án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên trả số tiền 5.950.000 đồng cho Phạm Văn T, đồng thời tịch thu tài sản không được phép lưu thông và tiêu hủy các vật dụng không có giá trị sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T có đơn kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên kháng nghị trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với Phạm Văn T vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay. Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 21/10/2019 Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ cho Phạm Văn T đến dự phiên tòa vào ngày 05/11/2019 nhưng T vắng mặt không rõ lý do. Sau đó, Cấp phúc thẩm tiếp tục tống đạt, triệu tập T đến dự phiên tòa vào ngày 13/11/2019 để xem xét kháng cáo của T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên nhưng T vẫn vắng mặt. Trong vụ án này, người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vắng mặt không rõ có lý do và để đảm bảo quyền lợi cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T cũng như đảm bảo thời hạn xét xử Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung: Bị cáo Trịnh Hồng P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không có kháng cáo, đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên và Viện kiểm sát không kháng nghị phần này, nên Cấp phúc thẩm không đặt ra vấn đề xem xét tội danh và hình phạt đối với bị cáo Trịnh Hồng P.
Xét kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thì thấy:
Giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra không chứng minh được tội phạm nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi của T để tiếp tục điều tra nếu có căn cứ sẽ xử lý sau. Từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay thì không có bất cứ tài liệu hay chứng cứ nào để xác định Phạm Văn T thực hiện hành vi phạm tội ngoài lời khai của bị cáo Trịnh Hồng P. Theo đó, không có cơ sở vững chắc xác định số lượng 57.8119 gam ma túy được thu giữ tại phòng trọ số 02 là của T nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự và xử lý các vật chứng liên quan đến T. Khi chưa xác định được tội phạm thì số tiền 5.950.000 đồng là tài sản hợp pháp của T cần phải trao trả lại cho chủ sở hữu quản lý sử dụng; Nếu sau này các cơ quan có thẩm quyền chứng minh được hành vi phạm tội của T thì sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. Tính đến thời điểm hiện tại, Phạm Văn T là người không vi phạm pháp luật, việc tiếp tục tạm giữ tiền và các vật dụng khác của T theo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên đã làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên kháng cáo của T xin nhận lại tiền và các vật dụng cá nhân được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định tuyên trả số tiền 5.950.000 đồng; Đồng thời tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 chiếc xe môtô biển số 67F6-9787, không có số khung, số máy 152M12003601 không được phép lưu hành và tiêu hủy các vật dụng không có giá trị sử dụng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.
Do Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên kháng nghị và chấp nhận kháng cáo của Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên Phạm Văn T không phải chịu tiền án phí theo điểm d khoản 1 Điều 11 và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T.
Chấp nhận kháng nghị số 02/VKS-HS ngày 08/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần các biện pháp tư pháp.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
+ Trả lại cho Phạm Văn T: Số tiền 5.950.000 đồng (Năm triệu, chín trăm năm mươi ngàn đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 07/5/2019, nộp vào tài khoản số 3949.0.9041473.00000 tại Kho bạc nhà nước An Giang.
+ Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng được thu giữ trong quá trình điều tra gồm:
- 01 nón bảo hiểm màu xanh có chữ PIAGGIO;
- 01 giấy chứng minh nhân dân cấp ngày 06/4/2011
- 01 giấy phép lái xe A1 tên Phạm Văn T.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen, màn hình cảm ứng bị nứt phía trên bên phải. Số IMEI: 358868/08/731321/7 và 358869/08/731321/5.
- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen loại bàn phím. Số IMEI: 357338088736742.
- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen loại bàn phím. Số IMEI1: 356269/04/101256/9; Số IMEI2: 256269/04/101257/7.
- 01 bóp da màu đen
- 01 chùm chìa khóa gồm 06 chìa khóa,
- 01 giấy CMND mang tên Phạm Văn T cấp ngày 23/10/2008.
- 01 giấy CMND tên Nguyễn Thị Thùy L cấp ngày 16/02/2016.
- 01 giấy chứng nhận xe môtô xe máy biển số 29M8-5751 tên Nguyễn Trung H,
- 02 hộp ma túy được niêm phong ghi vụ số 703/KLGĐ-PC09 ngày 24/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang,
- 01 hộp giấy màu đen có chữ COUGAR
- 01 hộp giấy màu xanh đen có in chữ Kim Cương.
- 01 hộp giấy màu xanh bạc có chữ Bấm kim.
- 01 cân điện tử màu đen có chữ Amput
- 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng dài khoảng 10cm có một đầu cắt nhọn,
- 01 cuộn băng keo nhựa màu đen,
- 01 cặp da màu đen hiệu Long Hải,
- 01 bọc xốp màu đen bị rách,
- 30 đoạn ống thủy tinh,
- 100 vỏ bao nilon trong suốt có rãnh kẹp, viền màu xanh nhiều kích cỡ chưa qua sử dụng.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe môtô biển số 67F6-9787, không có số khung, số máy 152M12003601.
(Tất cả vật chứng trên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn T không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2019/HSST ngày 26/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (1); - VKSND tỉnh An Giang (2); - TAND huyện,thi (2); - Công an huyện (1); - Cục THADS tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện (1); - Trại tạm giam (1); - Bị cáo (1); - Phòng KTNV và THA (1); - Tòa hình sự (1); - PV 06 (1); - Sở Tư pháp (1); - Văn phòng (2); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Ngọc Sơn |