vanban.org

Bản án 111/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về t i: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời gian chấp hành hình phạt từ ngày 16/01/2025 Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lê Trinh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về t i: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về t i: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2025/HS-ST
Ngày: 15-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy N

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Đ

2. Bà Trần Thị L

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế T- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh H- Kiểm sát viên

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 237/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Thu C, sinh ngày 08/10/1963, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: 140/11 Vũ Tùng, phường 2, quận Bình Thạnh, Thành phố.Hồ Chí Minh (Nay là Phường Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh). Chỗ ở: Nhà không số ấp Hậu Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là xã Bà Điểm, Thành phố Hồ Chí Minh), nghề nghiệp: Tự do; trình đ học vấn: 3/12; dân t c: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không. Quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Văn Đ (chết) và bà Nguyễn Thị N (chết). Chồng Lê Xuân P (chết) có 05 người con con chưa có, tiền án tiền sự: không.

Bị cáo tạm giam từ ngày 16/01/2025 đến nay.

2. Nguyễn Lê Trinh T,sinh ngày 08/7/1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: 140/11 Vũ Tùng, phường 2, quận Bình Thạnh, Thành phố.Hồ Chí Minh (Nay là Phường Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh). Chỗ ở: Nhà không số ấp Hậu Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là xã Bà Điểm, Thành phố Hồ Chí Minh), nghề nghiệp: Tự do; trình đ học vấn: 4/12; dân t c: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không. Quốc tịch: Việt Nam, con ông Lê Xuân P (chết) và bà Nguyễn Thị Thu C (là bị cáo trong vụ án). Anh chị em ru t có 04 người,chồng Nguyễn Trường S, sinh năm 1989 có 03 người con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019, tiền án tiền sự: không.

Bị cáo tạm giam từ ngày 16/01/2025 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Thị Thu C mua ma túy về bán kiếm lời. C ở chung với con gái là Nguyễn Lê Trinh T tại địa chỉ nhà không số ấp Hậu Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. T biết C bán ma túy và dùng tiền lời vào việc ăn uống sinh hoạt trong gia đình.Nguồn ma túy Cúc mua của đối tượng chưa rõ lai lịch với giá 80.000 đồng/tép, bán lại cho người nghiện 100.000 đồng/tép.

Ngày 15/01/2025, C mua 45 tép ma túy, đưa cho T 41 tép để cất giấu.C giữ 04 tép, khoảng 7 giờ 00 phút ngày 16/01/2025, C bán cho Nguyễn Trọng P 02 tép ma túy với giá 200.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Nguyễn Trọng P tiếp tục đến nhà của C hỏi mua 02 tép ma túy với giá 200.000 đồng, C đồng ý nhưng chưa kịp giao ma túy và lấy tiền thì bị Đ i Cảnh sát Hình sự Công an huyện Hóc Môn phát hiện bắt quả tang.Thu giữ trong túi quần của C 02 đoạn ống nhựa chứa chất b t màu trắng (ký hiệu m1).

Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà không số ấp Hậu Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, tại phòng ngủ, trong tủ đựng đồ của Nguyễn Lê Trinh T, Cơ quan điều tra thu giữ 41 đoạn ống hút nhựa chứa chất b t màu trắng (ký hiệu m2).Trinh khai đây là ma túy C nhờ T giữ, khi nào có người nghiện đến mua thì C sẽ lấy để bán.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Thu C, Nguyễn Lê Trinh T khai nhận hành vi phạm t i như đã nêu trên. Trong ngày 16/01/2025, C bán ma túy cho P 02 lần, lần thứ nhất vào 7 giờ 00 phút, lần thứ hai vào 11 giờ 00 phút. T biết C bán ma túy nhưng không tham gia bán cùng,chỉ cất giấu ma túy. Ngoài 41 tép ma túy bị Cơ quan điều tra thu giữ, T còn cất giấu giúp C 10 tép ma túy vào khoảng 20 ngày trước đó. C bán trái phép chất ma túy cho đến ngày bị bắt khoảng 02 tháng, thu lợi bất chính số tiền 3.000.000 đồng và đã sử dụng vào việc sinh hoạt cho gia đình.Lời khai của C và T, Phước phù hợp với nhau.

Kết luận giám định số 2028/KL-KTHS ngày 23/01/2025 của Phòng kỹ thuật Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Gói 1: Tinh thể được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0826g, loại Heroin.

- Gói 2: B t được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,7908g, loại Heroin.

Vật chứng thu giữ:

- 43 đoạn ống hút nhựa bên trong chứa chất b t màu trắng.

Thu giữ của Nguyễn Trọng Phước:

- 200.000 đồng tiền Việt Nam dùng để mua ma túy

- Xe máy biển số 62T3-3890, là phương tiện Phước điều khiển đến gặp Cúc mua ma túy, Cơ quan điều tra đã giao cho Công an xã Bà Điểm xử lý.

Tại bản cáo trạng số 233/CT-VKS H.HM ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh) đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu C, Nguyễn Lê Trinh T về t i “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 B luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, hai bị cáo thừa nhận hành vi phạm t i như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 (Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn), Thành phố Hồ Chí Minh, thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng đề nghị H i đồng xét xử tuyên bố hai bị cáo: Nguyễn Thị Thu C, Nguyễn Lê Trinh T về t i “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị H i đồng xét xử xem xét cho hai bị cáo các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như sau:

Tình tiết giảm nhẹ: Hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật Hình sự. Ngoài ra, hai bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, sự thiếu hiểu biết về pháp luật , do đó, áp dụng khoản 2 Điều 51 B luật hình sự cho hai bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 B luật Hình sự

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, 5 Điều 251, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 B luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu C từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về t i “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 B luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Trinh T từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về t i “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Cúc 5.000.000 đồng.

Thu lợi bất chính: Bu c bị cáo Cúc n p số tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng

Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

- Gói 1: Tinh thể được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0826g, loại Heroin.

- Gói 2: B t được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,7908g , loại Heroin.

Tịch thu n p ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng tiền Việt Nam của Nguyễn Trọng P dùng để mua ma túy.

Đối với xe máy biển số 62T3-3890, là phương tiện Phước điều khiển đến gặp Cúc mua ma túy đã giao cho công an Bà Điểm xử lý theo thẩm quyền xong không đặt ra giải quyết.

Hai bị cáo không có ý kiến tranh luận, trình bày lời nói sau cùng bị cáo hối hận việc đã làm, nên xin H i đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về hòa nhập xã h i.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn (nay là Viểm sát nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận:Vào khoảng 11 giờ ngày 16/01/2025, tại địa chỉ nhà không số ấp Hậu Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Nguyễn Thị Thu C có hành vi giao cho Nguyễn Lê Trinh T cất giấu 44 tép ma túy nhằm mục đích bán cho các con nghiện thì bị Đ i Cảnh sát Hình sự Công an huyện Hóc Môn bắt quả tang, kết quả điều tra ghi nhận Cúc bán ma túy cho Nguyễn Trọng P hai lần, lần thứ nhất vào lúc 07 giờ ngày 16/01/2025 bán hai tép Heroin giá 200.000 đồng, lần thứ hai vào lúc 11 giờ cùng ngày nhưng chưa kịp giao ma túy, nhận tiền thì bị bắt.Ngoài ra, bị cáo C còn bán ma túy cho nhiều người không rõ lai lịch. Nguyễn Lê Trinh T có hành vi cất giấu ma túy giúp cho bị cáo C trong việc mua bán ma túy.

N i dung khai nhận của hai bị cáo C, T tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy; có đủ cơ sở chứng minh hai bị cáo C, T có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.Hai bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cáo trạng số 233/CT-VKS H.HM ngày 11/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh (Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn) truy tố hai bị cáo Nguyễn Thị Thu C, Nguyễn Lê Trinh T về t i “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 251. T i mua bán trái phép chất ma túy.

“1.Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2.Phạm t i trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…

b) Phạm t i hai lần trở lên;

…

5. Người phạm t i còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu m t phần hoặc toàn b tài sản.”.

Áp dụng điều luật viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm t i của bị cáo Nguyễn Thị Thu C, Nguyễn Lê Trinh T thu c trường hợp nghiêm trọng, ma túy là chất cấm lưu hành, hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của hai bị cáo đã xâm phạm đến chính sách đ c quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã h i, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại t i phạm khác, nên cần xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

H i đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng cho hai bị cáo và phân tích vai trò của từng bị cáo để Quyết định hình phạt tương xứng với tính chất mức đ của bị cáo như sau:

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự. Ngoài ra, hai bị cáo đều là phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, học vấn thấp, bị cáo C học hết lớp ba, bị cáo T không biết chữ, do đó nhận thức pháp luật thấp,về nhân thân: Hai bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, cần áp dụng khoản 2 Điều 51 cho hai bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo Điều 52 B luật Hình sự.

Vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Nguyễn Thị Thu C với vai trò là chủ mưu mua và bán ma túy trực tiếp có thu lợi bất chính cho nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chính trong vụ án. Bị cáo Nguyễn Lê Trinh T giúp sức cho bị cáo C giữ ma túy cho bị cáo C nhiều lần khi nào bị cáo C cần ma túy để bán cho các đối tượng nghiện thì bị cáo T đưa, đây là đồng phạm giản đơn cho nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự sau bị cáo C.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo C, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T. Phạt bổ sung bị cáo C 5.000.000 đồng n p vào ngân sách nhà nước.

Thu lợi bất chính: Trong thời gian buôn bán ma túy bị cáo Cúc có thu lợi bất chính 3.000.000 cần bu c bị cáo n p vào ngân sách nhà nước.

Ý kiến đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, nên được H i đồng xét xử chấp nhận.

Xử lý vật chứng: Xét thấy;

- Gói 1: Tinh thể được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0826g, loại Heroin. Gói 2: B t được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,7908g , loại Heroin được thu giữ từ 43 đoạn ống hút nhựa bên trong chứa chất b t màu trắng, là chất ma túy còn lại sau giám định, là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000 đồng tiền Việt Nam của Nguyễn Trọng P dùng để mua ma túy là vật chứng trong vụ án cần tịch thu n p ngân sách nhà nước

Đối với xe máy biển số 62T3-3890 của Phước dùng làm phương tiện để mua ma túy, giao cho công an Bà Điểm xử lý theo thẩm quyền.

Về trách nhiệm dân sự: Không có

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thu C, Nguyễn Lê Trinh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 38; điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 B luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu C;

Căn cứ vào Điều 38; điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điểm b khoản 2, Điều 251 B luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Lê Trinh T;

2. Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 B luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 B luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

-Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về t i: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời gian chấp hành hình phạt từ ngày 16/01/2025

-Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lê Trinh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về t i: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời gian chấp hành hình phạt từ ngày 16/01/2025

-Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Thu C số tiền 5.000.000 đồng, n p vào Ngân sách nhà nước.

-Thu lợi bất chính: Bu c bị cáo Nguyễn Thị Thu C n p số tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng n p ngân sách nhà nước.

N p ngay các khoản khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: Gói 1: Tinh thể được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0826g, loại Heroin. Gói 2: B t được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,7908g , loại Heroin

-Tịch thu n p ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng tiền Việt Nam của Nguyễn Trọng Phước dùng để mua ma túy.

(Hiện vật chứng do Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đang giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/7/2025 theo Quyết định chuyển vật chứng số 204/QĐ-VKS-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8-Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thu C, Nguyễn Lê Trinh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ