- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Lường Văn Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 111/2024/HS-ST Ngày: 22 - 5- 2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Trọng Dương
2. Ông Hà Quang Hùng
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 22/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/TLST-HS ngày 09/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-HS ngày 09/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lƣờng Văn Đ; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1968 tại huyện Tuần G, tỉnh Điện B; nơi cư trú: Bản H xã Chiềng S, huyện Tuần G, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: 03/10; con ông: Lường Văn Ph (Đã chết), con bà: Lò Thị L, sinh năm 1940; vợ là Lò Thị T, sinh năm 1971 (Đã ly hôn năm 2013); năm 2014, bị cáo chung sống như vợ chồng với Quàng Thị T, sinh năm 1978; bị cáo có 03 con, con lớn nhất, sinh năm 1994, con nhỏ nhất, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử; năm 2013 tự nguyện đi cai nghiện tại Điện Biên, năm 2014 trở về địa phương; chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2024 đến ngày xét xử, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị B, là luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý nhà nước của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện B, có mặt bào chữa cho bị cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, Lường Văn Đ một mình đi bộ từ nhà tại bản H, xã Chiềng S, huyện Tuần G, tỉnh Điện B ra khu vực cầu bản B, xã Chiềng Đ, huyện Tuần G, tỉnh Điện B để tìm mua Heroine về sử dụng cho bản thân và bán kiếm lãi.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi đến đầu cầu bản B, xã Chiềng Đ, huyện Tuần G thì Đanh gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không quen biết), khoảng 50 tuổi. Qua trao đổi Đ đã mua được của người đàn ông đó 01 (một) gói nilon Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 600.000đồng.
Sau khi mua được gói Heroine Đ đã cất giấu gói Heroine đó vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi về đến nhà, Đ đem gói Heroine vừa mua được ra dùng dao lam có sẵn trong nhà cắt chia nhỏ thành 13 (mười ba) phần, sau đó Đ đã sử dụng 01 (một) phần bằng hình thức đốt hút, còn lại 12 (mười hai) phần Đ dùng các mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ có sẵn trong nhà gói lại thành 12 (mười hai) gói Heroine, sau đó cho vào trong 01 (một) túi nilon màu trắng có mép dính có sẵn trong nhà rồi cất giấu vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc, còn chiếc dao lam Đanh dùng để cắt chia Heroine, giấy bạc và bật lửa Đ dùng để sử dụng Heroine, Đ vứt đi đâu không nhớ.
Đến hồi 19 giờ 30 phút cùng ngày, Đ mang theo số Heroine đi bộ xuống dưới bản H, xã Chiềng S, huyện Tuần G để bán ma túy cho người khác thì bị tổ công tác Công an xã Chiềng S, huyện Tuần G kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong túi áo khoác bên phải Đ đang mặc 01 (một) túi nilon màu trắng có mép dính, bên trong có 12 (mười hai) gói giấy màu trắng loại có dòng kẻ, bên trong mỗi gói giấy đều chứa Heroine. Đ khai nhận đó là các gói Heroine của Đ cất giấu mục đích để bản thân sử dụng và bán kiếm lãi.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 23 giờ 55 phút ngày 27/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần G đã xác định: Mẫu chất cục màu trắng nghi ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo Lường Văn Đ có khối lượng 0,38 gam, gửi giám định toàn bộ.
Tại Bản kết luận giám định số: 357/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện B đã kết luận: Mẫu các cục màu trắng gửi giám định thu giữ của bị cáo Lường Văn Đ là chất ma túy, loại Heroine, hoàn lại đối tượng giám định 0,35 gam.
Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi mua Heroine về để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.
Tại bản Cáo trạng số: 62/CT-VKSTG ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G đã truy tố bị cáo về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn Đ từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 túi nilon màu trắng có mép dính, 12 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ và 01 vỏ phong bì cũ; 01 phong bì được niêm phong bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,35 gam Heroine.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình, nhờ người bào chữa, bào chữa cho bị cáo.
Quan điểm bào chữa của người bào chữa: Nhất trí với bản Cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhất trí với việc đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét thêm các tình tiết về nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, để áp dụng mức hình phạt khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo không bổ sung gì vào lời bào chữa và không có quan điểm tranh luận.
Người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét..
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 19 giờ 30 phút, ngày 27/01/2024 tại khu vực bản H, xã Chiềng S, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, bị cáo bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,38 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.
Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL66); kết luận giám định (BL 69); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã cất giấu trái phép 0,38 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lường Văn Đ sinh ra và lớn lên tại huyện Tuần G, tỉnh Điện B, sử dụng ma túy từ năm 2014. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng nào. Năm 2013 bị cáo đã tự nguyện đi cai nghiện tại Điện Biên, năm 2014 trở về địa phương. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
HĐXX xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại đầu cầu bản Bó, xã Chiềng Đ, huyện Tuần G, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ được, HĐXX không xem xét.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ làm nông nghiệp, là hộ nghèo, là người sử dụng ma túy nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, cần bị tịch thu tiêu hủy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 túi nilon màu trắng có mép dính, 12 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ và 01 vỏ phong bì cũ; 01 phong bì được niêm phong bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,35 gam Heroine.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Về tội danh: Bị cáo Lường Văn Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn Đ: 02 (Hai) năm 03 (Ba)
tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 27/01/2024
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 túi nilon màu trắng có mép dính, 12 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ và 01 vỏ phong bì cũ; 01 phong bì được niêm phong bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,35 gam Heroine.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được Công an huyện Tuần G bàn
giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần G hồi 15 giờ 30 phút, ngày 09 tháng 04 năm 2024)
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 22/5/2024./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện B; - VKSND tỉnh Điện B; - VKSND huyện Tuần G; - Công an huyện Tuần G (3); - Sở Tư pháp tỉnh Điện B; - THA DS TG, THA HS; - Bị cáo; Người BC; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM HỘI THẨM Hà Quang Hùng Nguyễn Trọng Dƣơng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM HỘI THẨM Lý A Thu Tòng Văn Nghiến HỘI THẨM Lò Văn Hải Lò Văn Thƣơng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà |