vanban.org

Bản án 111/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 13/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn M 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/4/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Minh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THAN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:111/2024/HS-ST
Ngày: 13/8/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Vừ Thị Hoa; Nguyễn Thị Khánh Ly.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 13/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2024/TLST-HS, ngày 26/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024 đối với bị cáo:

Lò Văn M -Sinh ngày 23/7/1991 tại huyện Th U, tỉnh L Ch.

Nơi cư trú: Bản Đ 9, xã Ph Th, huyện Th U, tỉnh L Ch; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn Th - sinh năm 1968; Con bà: Phan Thị Kh – sinh năm 1966 ( mẹ kế: Teo Thị Đ – sinh năm 1971); Gia đình có 4 anh, em bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Tòng Thị N

- sinh năm 1991; Bị cáo có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/4/2024, tạm giam từ ngày 25/4/2024, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Th U. (Có mặt)

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Lò Thị Nh – sinh năm 1984.

Trú tại: Bản Đ 9, xã Ph Th, huyện Th U, tỉnh L Ch.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 19/4/2024, Lò Văn M điều khiển xe mô tô đến bản N Th, xã Ph Th, huyện Th U, tỉnh L Ch, mục đích tìm mua Heroine sử dụng. Tại bản N Th, M gặp một người phụ nữ có tên là “P”, qua nói chuyện, M đã mua của người phụ nữ đó 01 cục nhỏ Heroine với giá 350.000 đồng. Mua được Heroine, M cấu lấy một ít sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, M chia ra thành 02 gói nhỏ (gói bằng mảnh ni lon màu xanh) để vào trong bao thuốc lá Thăng Long, cất giấu trong cốp xe mô tô rồi điều khiển mang Heroine đi về nhà. Đến hồi 20 giờ 00 phút cùng ngày, khi Lò Văn M đi về đến địa phận bản Đ 9, xã Ph Th, huyện Th U thì bị Công an huyện Th U phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ bên trong cốp xe mô tô, biển kiểm soát 25T1 – 025.54 Lò Văn M đang điều khiển 01 bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 02 gói chứa chất bột màu trắng (đều được gói bằng các mảnh ni lon màu xanh) và 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 25T1 – 025.54.

Tại Bản kết luận giám định tư pháp số 31 ngày 19/4/2024 của người giám định theo vụ việc Công an huyện Th U và Kết luận giám định số 452 ngày 22/4/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L Ch kết luận: số chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn M có tổng khối lượng 0,51 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin).

Vật chứng của vụ án gồm: 0,51 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định 0,15 gam (không hoàn lại).

Đối với chiếc xe mô tô, Cơ quan điều tra tạm giữ của Lò Văn M. Quá trình điều tra, xác định: Lò Văn M mượn của chị Lò Thị Nh (sinh năm 1984; trú tại bản Đ 9, xã Ph Th, huyện Th U). Khi cho mượn xe, M không cho chị Nh biết mục đích dùng làm phương tiện đi mua Heroine. Ngày 08/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại chiếc xe mô tô cho chị Lò Thị Nh. Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,36 gam Heroine; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đ u, hiện đang được bảo quản theo quy định.

Tại bản cáo trạng số: 81/CT –VKS, ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Lò Văn M về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Than Uyên trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn M từ 1 năm 06 tháng đến 2 năm tù.

Không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 0,36 gam Heroine; 01 phong bì bên trong đựng 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ bì niêm phong ban đ u.

Về án phí: Bị cáo phải toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo được sớm trở về hòa nhập với gia đình, xã hội, tự sửa chữa sai l m để làm người có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 19/4/2024, tại bản N Th, xã Ph Th, huyện Th U, tỉnh L Ch, Lò Văn M đã mua trái phép 01 gói Heroine với giá 350.000 đồng từ một người không rõ lai lịch. Sau đó, M chia số Heroine mua được thành 02 gói nhỏ, mục đích để sử dụng. Đến 20 giờ 00 phút cùng ngày, tại bản Đ 9, xã Ph Th, huyện Th U, Lò Văn M bị Công an huyện Th U phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,51 gam.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ pháp luật, mức án đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.

Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo có đủ điều kiện để nhận biết: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc. Nhưng để có ma túy sử dụng, ngày 19/4/2024, tại bản N Th, bị cáo Lò Văn M đã cố ý mua trái phép 01 gói Heroine với giá 350.000 đồng với mục đích mang về sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nên c n phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Nên c n cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, c n xét giảm ph n nào khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án gồm: 0,36 gam Heroine; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ bì niêm phong ban đ u. Xét thấy số vật chứng này là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên c n tuyên tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc Heroine, bị can Lò Văn M khai mua của một người phụ nữ có tên là “P” tại bản N Th, xã Ph Th, huyện Th U, tỉnh L Ch. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác M nhưng tại bản N Th, xã Ph Th, huyện Th U không có người nào tên “P” nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với chị Lò Thị Nh là chủ sở hữu chiếc xe mô tô cho Lò Văn M mượn, sau đó M điều khiển đi mua Heroine sử dụng. Quá trình điều tra xác định: khi cho mượn xe, chị Nh không biết M dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không để cập xử lý đối với chị Lò Thị Nh là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo Lò Văn M phải chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy đinh.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Khoản 2 Điều 106; Điều 135;136;331;333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn M 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/4/2024.

3. Về vật chứng:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,36 gam Heroine; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ bì niêm phong ban đ u.

(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Than Uyên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 29/7/2024 ).

4. Về án phí: Bị cáo Lò Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.

Cỡ chữ