vanban.org

Bản án 111/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị D là vợ chồng.

Về con chung: Ông H, bà D có một người con chung tên Nguyễn Vủ L, sinh ngày 20/10/2000. Hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Ông H xác định có nhưng ông, bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hậu - Dảnh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị D là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 04 – 7 – 2024
“V/v Tranh chấp của nam, nữ
chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Việt Khái.

Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Tú, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Văn Kil – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc "Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự.

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1966 (Có mặt).

Cư trú tại: Ấp Phú Th, xã Phú M, huyện Phú T, tỉnh CM.

Bị đơn: Bà Phan Thị D, sinh năm: 1966 (Vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp Phú Th, xã Phú M, huyện Phú T, tỉnh CM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn H trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Phan Thị D chung sống với nhau vào năm 1998, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán tại địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn theo ông là do ông, bà bất đồng quan điểm, không quan tâm chăm sóc nhau, dẫn đến vợ chồng cự cải thường xuyên. Mâu thuẫn giữa vợ, chồng cha mẹ hai bên có biết nhưng không tổ chức hòa giải hàn gắn. Ông và bà D đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Ông H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu Tòa án cho ông được ly hôn với bà D.

Về con chung: Ông H xác định: Ông, bà có một người con chung tên Nguyễn Vủ L, sinh ngày 20/10/2000. Hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Ông H xác định có nhưng ông, bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông H khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.

Đối với bà Phan Thị D, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Phan Thị D đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bà D vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình nên Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị D là vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung thì không xem xét giải quyết. Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc xin ly hôn với bà Phan Thị D thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình; bà D là bị đơn có nơi cư trú tại ấp Phú Thành, xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Phan Thị D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử theo quy định nhưng bà D vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị D tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán ở địa phương. Có đủ điều kiện kết hôn nhưng ông, bà không có đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, quan hệ hôn nhân của ông, bà đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, cho nên hôn nhân giữa ông, bà không thỏa mãn về mặt hình thức. Nay ông H yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn dẫn đến cự cãi thường xuyên, không tin tưởng lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt. Ông, bà đã ly thân từ năm 2020 đến nay mà không bên nào có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn. Bên cạnh đó, ông H cương quyết xin ly hôn, trường hợp Tòa án không cho ông ly hôn, ông cũng không trở về chung sống với bà D được nữa vì tình cảm vợ, chồng không còn.

Xét mâu thuẫn thực tế của ông H và bà D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đồng thời, hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên ông, bà không được công nhận là vợ, chồng.

Về con chung: Ông H xác định: Ông, bà có một người con chung tên Nguyễn Vủ L, sinh ngày 20/10/2000. Hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Ông H xác định có nhưng ông, bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung và người khác nợ lại: Ông H khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị D là vợ chồng.

2. Về con chung: Ông H, bà D có một người con chung tên Nguyễn Vủ L, sinh ngày 20/10/2000. Hiện con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Ông H xác định có nhưng ông, bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung và người khác nợ lại: Ông H khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Ông H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 06 tháng 5 năm 2024, ông H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0003467 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân được chuyển thu sung quỹ nhà nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ