vanban.org

Bản án 111/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lƣu Mỹ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lƣu Mỹ H 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2023. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LUU MY HOA - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lƣu Mỹ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 111/2023/HS-ST
Ngày: 25 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hoa Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nguyệt;

Bà Trần Ngọc Phƣơng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2023/TLST- HS ngày 23 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa ngày 13/4/2023 đối với bị cáo:

Lƣu Mỹ H, sinh năm 1968; tại Bình Dƣơng; nơi thƣờng trú: khu phố 10, phƣờng C, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lƣu S (chết) và bà Trần Thị T (chết); bị cáo có chồng và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 18-4-2023 tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Thuận An, có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng:

- Bị hại: Bà Thi Kim Y, sinh năm 1975, cƣ trú tại: Thạnh Hòa B, phƣờng A, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/10/2022, Lƣu Mỹ H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, kiểu dáng Mio, biển số 61B1-032.54 đi từ nhà đến điểm bán trái cây tại khu phố Hƣng Phƣớc, phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng do bà Thi Kim Y làm chủ để mua cam. Tại đây, H nhìn thấy trong quầy có 01 cuộn tiền đƣợc cột dọc bằng dây thun để trong bọc nylon nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trên. Lợi dụng bà Y đang chọn cam, không để ý, H dùng tay phải lấy cuộn tiền giấu vào túi áo khoác bên phải rồi điều khiển xe đi về hƣớng phƣờng An Thạnh, thành phố Thuận An. Sau khi H bỏ đi, bà Y phát hiện bị mất cọc tiền và nghi ngờ H chiếm đoạt nên đã nhờ chồng bà Y cùng ngƣời dân xung quanh đi tìm H. Khi đến tiệm tạp hóa tại địa chỉ: 56/2, khu phố Thạnh Hòa B, phƣờng An Thạnh, thành phố Thuận An, thấy H đang dừng xe mua nƣớc uống thì bà Y cùng ngƣời dân báo Công an phƣờng Hƣng Định đến mời H về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, H khai nhận toàn bộ hành vi nhƣ trên đồng thời giao nộp số tiền 5.160.000 đồng là tiền do H chiếm đoạt của bà Y.

Bản Cáo trạng số 101/CT-VKS -TA ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Lƣu Mỹ H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện viện kiểm sát trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Lƣu Mỹ H mức hình phạt từ 06 tháng đến 08 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 5.160.000 đồng tạm giữ của Lƣu Mỹ H là tiền của bà Thi Kim Y. Ngày 16/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho bà Y. Bà Y không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Theo cáo trạng đề nghị trả lại cho bị cáo H chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, kiểu dáng Mio, biển số 61B1-032.54, màu sơn Nâu – Trắng, số khung: 041626, số máy 041628. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt, xin cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình;

- Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn xin vắng mặt bị hại xác định đã nhận bồi thƣờng, không yêu cầu gì khác, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Bị hại có yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của bị hại, việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp với Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những ngƣời tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lƣu Mỹ H khai nhận hành vi phạm tội đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 30/10/2022, tại khu phố Hƣng Phƣớc, phƣờng Hƣng Định, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, khi đến cửa hàng bán trái cây của bà Y mua cam, bị cáo Lƣu Mỹ H lợi dụng sự sơ hở của bà Y và đã lén lút chiếm đoạt số tiền 5.160.000 đồng của bà Thi Kim Y.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Lƣu Mỹ H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong vụ án này bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Lƣu Mỹ H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hƣởng đến trật tự chung của xã hội, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, bị cáo nhận thức đƣợc việc chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật nhƣng vì muốn có tiền tiêu xài bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; tài sản (tiền) đƣợc thu hồi trả cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ nhân thân cũng nhƣ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự, biện pháp tƣ pháp:

- Bị hại đã nhận lại số tiền và không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, kiểu dáng Mio, biển số 61B1-032.54, màu sơn Nâu – Trắng, số khung 041626, số máy 041628, đây là xe của bị cáo H. Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát đã thay đổi đề nghị tịch thu xe sung quỹ nhà nƣớc. Xét thấy dù ban đầu bị cáo không có ý định trộm cắp tài sản, tuy nhiên sau khi trộm đƣợc số tiền của bị hại, bị cáo đã dùng chiếc xe này để làm phƣơng tiện tẩu thoát. Do đó, cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Điều 106, 136, 260, 292, 328, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lƣu Mỹ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lƣu Mỹ H 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/4/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc 01 chiếc xe mô tô mô tô nhãn hiệu YAMAHA, kiểu dáng Mio, biển số 61B1-032.54, màu sơn Nâu – Trắng, số khung 041626, số máy 041628. (Không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 22/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

5. Về án phí: Bị cáo Lƣu Mỹ H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ