vanban.org

Bản án 111/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 29 tháng 01 năm 2023).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư niêm phong, trong có chứa 0,725 gam ma túy (Methamphetamine) thu giữ của Phan Minh Đ (một mặt của phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ của Phan Minh Đ, sinh năm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Minh D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 29 tháng 01 năm 2023).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2023/HSST
Ngày: 28/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Thẩm

2. Ông Trần Quốc Đấu

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.

- Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: Ông Lê Viết Báu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023; tại Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2023/HSST ngày 24 tháng 3 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Phan Minh Đ; Sinh ngày: 11 tháng 8 năm 1983 tại huyện N, tỉnh H; Nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn T, huyện N, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn G (đã chết) và bà: Đặng Thị L, Sinh năm: 1944; Chưa có vợ con; Tiền án:

- Bản án số 20/HSST ngày 03/11/2004 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 126/HSPT ngày 22/12/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong Bản án số 20/HSST ngày 03/11/2004 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh và Bản án số 126/HSPT ngày 22/12/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, ra trại vào ngày 27/01/2014.

- Bản án số 11/2015/HSST ngày 20/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong ra trại ngày 07/10/2022.

Tiền sự: Quá trình chấp hành án phạt tù tại Trại giam số 03 theo Bản án số 11/2015/HSST ngày 20/3/2015, Phan Minh Đ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác”, hình thức: Phạt tiền 6.500.000 đồng (Chưa thi hành);

Nhân thân: - Ngày 15/9/1999 bị UBND tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định số 1903 đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng.

- Ngày 22/11/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; Chấp hành xong ra trại ngày 07/02/2003 (Tài sản trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng).

- Ngày 29/9/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; Chấp hành xong ra trại ngày 05/3/2004. (Tài sản trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng).

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2023 đến nay, có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Hà Thị L; Sinh năm: 1969; Địa chỉ: Khối 7, thị trấn H, huyện H, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1983; Địa chỉ: Khối 3, Thị trấn H, huyện H, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 29/01/2023, tại khu vực trước cổng nhà số 08, ngõ 03 đường N thuộc khối H, phường HP, thành phố V, Phan Minh Đ đang có hành vi cất giữ trái phép 01 gói ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng 0,855 gam, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Đội cảnh sát kinh tế và chức vụ Công an thành phố Vinh phát hiện, bắt quả tang.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập ngày 30/01/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vinh và Kết luận giám định số 140/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 04/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phan Minh Đ gửi đến giám định là ma tuý (Methamphetamine). Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phan Minh Đ có khối lượng là 0,855 g (không phẩy tám trăm năm mươi lăm gam)”.

* Về thu giữ và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ: 01 (một) gói nhỏ được gói bên ngoài bằng bao potylen màu cam, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, bên trong có gắn thẻ sim số 0869.469854 và 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Mio, màu đỏ, biển kiểm soát 37L2-9252.

Tại Bản cáo trạng số 113/CT-VKS-TPV ngày 27/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Phan Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Minh Đ khai nhận như sau: Phan Minh Đ được một nam thanh niên có tên gọi “C” (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) giới thiệu khi cần mua ma túy liên hệ tài khoản Facebook “Cot.Loe Đại”. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 29/01/2023, Phan Minh Đ thông qua mạng xã hội Facebook liên hệ người đàn ông tên tài khoản “Cot.Loe Đại” hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá”, người đàn ông này đồng ý và hẹn Đ đến khu vực đường D, phường B, thành phố V, tỉnh NA để giao dịch. Phan Minh Đ đi xe máy “lai” đến điểm hẹn tại khu vực đường D, phường B đưa số tiền 500.000 đồng cho người đàn ông bán ma túy, người này nói ma túy cất giấu ở gốc cây gần đó để Đ đi bộ lại lấy 01 (một) bao potylen màu cam bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Đ cất gói ma túy trong người đi về nhà Đ ở tổ dân phố G, thị trấn T, huyện N, tỉnh H. Đến khoảng hơn 18 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị T là bạn gái của Đ, điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Mio, màu đỏ, biển số 37L2-9252 (xe của chị Hà Thị L, cho T mượn đi chơi) đến nhà Đ chở Đ đi uống bia tại thành phố Vinh. Đ cất giấu gói ma túy trong túi áo khoác Đ đang mặc để sử dụng. Khi đi đến khu vực trước cổng nhà số 08, ngõ 03, Đường N thuộc khối H, phường HP, thành phố V thì bị đội Cảnh sát kinh tế Công an thành phố Vinh tiến hành kiểm tra. Lúc này, Phan Minh Đ cầm gói ma túy trên tay trái, vì hoảng sợ nên Đ thả gói ma túy xuống mặt đường nơi Đ đứng nên lực lượng Công an yêu cầu Đ nhặt gói ma túy lên và Đ khai nhận đó là gói ma túy của Đ mua về để sử dụng, chất ma túy và khối lượng đúng như Kết luận giám định đã nêu. Ngoài ra, còn thu giữ 01 (một) máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, bên trong có gắn thẻ sim số 0869.469854 của bị cáo và 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Mio, màu đỏ, biển kiểm soát 37L2-9252.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như tại Bản cáo trạng số 113/CT-VKS-TPV ngày 27/3/2023 và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Điểm o Khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Minh Đ từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt bổ sung: đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015, Điều 47 BLHS 2015: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định là 0,725 gam Methamphetamine; Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, bên trong có gắn thẻ sim số 0869.469854, thu giữ của Phan Minh Đ.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Và tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

. Căn cứ vào: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hà Thị L (BL 111 – 113), người làm chứng chị Nguyễn Thị T (BL 96 - 104); Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định, vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 22 giờ ngày 29/01/2023, tại trước cổng nhà số 08, ngõ 03, đường N thuộc khối H, phường HP, thành phố V, hành vi cất giấu trái phép 0,855 gam ma túy (Methamphetamine) để sử dụng của Phan Minh Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Bị cáo lại phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên Viện kiểm sát truy tố theo quy định tại điểm o Khoản 2 Điều 249 BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng mức.

. Đây là vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện. Mặc dù bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy đối với trí lực và thể lực của người sử dụng; biết rõ ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm bị nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển... trái phép nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội tại khu vực tập trung đông dân cư, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo lại có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xử phạt nhiều lần trong đó cũng có những lần về tội phạm ma túy nhưng không chịu lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà vẫn tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo có ý thức pháp luật kém, thiếu ý chí tu dưỡng, rèn luyện để sửa chữa sai lầm nên cần phải xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn nên cần áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ phần nào hình phạt đối với bị cáo cũng đủ để giáo dục, cải tạo và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 BLHS thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định; hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn nên miễn cho bị cáo.

. Trong vụ án này, theo lời khai của Phan Minh Đ thì có người đàn ông có tên là “C” và người đàn ông sử dụng tài khoản Facebook “Cot.Loe. Đại” đã bán ma tuý cho Đ nhưng do Đ không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Quá trình điều tra cũng chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ để đề nghị xử lý. Vì vậy, khi nào xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau. Riêng đối với chị Nguyễn Thị T, là người điều khiển xe máy Mio màu đỏ, biển kiểm soát 37L2-9252 chở Phan Minh Đ ngồi sau nhưng T không tham gia mua, tàng trữ trái phép chất ma túy cùng với Đ và không biết Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với chị T là phù hợp nên Hội đồng xét xử miễn xét.

. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ tại Phan Minh Đ, sau khi lấy đi giám định còn lại là 0,725g Methamphetamine là đối tượng phạm tội cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Điều 47 Bộ luật Hình sự. Còn 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, bên trong có gắn thẻ sim số 0869.469854 thu giữ của Phan Minh Đ là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần căn cứ vào quy định tại Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự để tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước. Riêng đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio, màu đỏ, biển kiểm soát 37L2-9252 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Hà Thị L cho chị T mượn làm phương tiện đi lại, chị L không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Phan Minh Đ. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Lý là phù hợp nên Hội đồng xét xử miễn xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm o Khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Phan Minh Đ 6 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 29 tháng 01 năm 2023).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư niêm phong, trong có chứa 0,725 gam ma túy (Methamphetamine) thu giữ của Phan Minh Đ (một mặt của phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ của Phan Minh Đ, sinh năm 1983, bắt ngày 29/01/2023 tại khối H, phường HP, thành phố V, NA”).

- Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, bên trong có gắn thẻ sim số 0869.469854 thu giữ của Phan Minh Đ.

(Số vật chứng này hiện có tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK2023/134 ngày 13/4/2023).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Minh Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ