- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2023/HSST Ngày 30 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚ C CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ
TOÀ Á N NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị H
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ M
Bà Kim Linh Ch
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích H - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Tr - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023 ta ̣i trụ sở Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 120/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Văn H, sinh ngày 01/8/1997; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu 01, xã M, huyện H, tỉnh P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Phạm Văn C và bà Phạm Thị H; Vợ con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án. Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2022/HS-ST ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố H xử 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, trị giá tài sản trộm cắp là 11.000.000đ. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/03/2023. Tính đến ngày 18/5/2023 bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/5/2023. Qua xác minh xác định bị cáo không sinh sống tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú mà thường xuyên đi lang thang, làm gì, ở đâu chính quyền địa phương không biết và không quản lý được. Do đó, ngày 23/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh P đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với bị cáo. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 18/5/2023 tổ Công tác Công an phường Nông Trang, thành phố V, tỉnh P đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 1A, khu 8, phường Nông Trang, thành phố V, tỉnh P phát hiện một người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông tự khai họ tên là Phạm Văn H, sinh năm 1997. Hộ khẩu thường trú: Khu 1, xã M, huyện H, tỉnh P. Nơi tạm trú và chỗ ở hiện tại: Khu 3, phường Vân Phú, thành phố V, tỉnh P. Quá trình kiểm tra H tự giác lấy từ túi quần phía trước bên trái đang mặc 02 gói giấy trong đó có 01 gói mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng; 01 gói mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng. Bên trong cả 02 gói đều có chứa chất bột, cục màu trắng. H giao nộp cho cơ quan công an và khai nhận đó là ma túy Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ, niêm phong 02 gói ma túy có đặc điểm như đã nêu trên theo quy định, ngoài ra còn thu giữ của H tiền mặt là 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng). Cùng ngày 18/5/2023. Công an phường Nông Trang đã giao đối tượng cùng hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố V để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 15/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiến hành xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với H, kết quả H dương tính với ma túy. Cùng ngày 18/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột, cục màu trắng thu giữ khi bắt quả tang đối với H. Tại kết luận giám định số 648/KL-KTHS ngày 22/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 02 gói giấy gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,137 gam, loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ”.
Heroine (hay Heroine, Diacetylmorphine): số thứ tự 9, Danh mục 1A, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ.
Hoàn lại đối tượng giám định là 0,076 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có đóng 03 dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bị bắt quả tang, Phạm Văn H khai nhận như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng hơn 11 giờ 00 phút, ngày 18/5/2023, H từ nhà đi nhờ xe của người không quen biết xuống khu vực vòng xuyến thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy Heroine. Khi đến nơi, H xuống xe và đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông không quen biết, có dáng giống người nghiện ma túy. H đã hỏi và mua được của người này 01 gói ma túy có đặc điểm là gói giấy hai mặt màu trắng bạc bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng là ma túy Heroine với giá 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó người đàn ông bán ma túy cho H đi đâu H không biết. Còn H cầm gói ma túy mua được đi ra chỗ vắng người gần đó mở gói ma túy tách làm hai phần rồi gói thành hai gói có đặc điểm: 01 gói mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng; 01 gói mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng. Bên trong cả hai gói đều chứa chất bột, cục màu trắng là ma túy Heroine. H cất hai gói ma túy vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi về thành phố V để tìm nơi sử dụng. Khi H đến khu vực đầu đường Hoàng Hoa Thám thuộc tổ 1A, khu 8, phường Nông Trang, thành phố V, tỉnh P thì bị tổ công tác Công an phường Nông Trang, thành phố V, tỉnh P phát hiện lập biên bản bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Nguyên nhân, điều kiện, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo: Do H là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy nên đã mua trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo Phạm Văn H đã bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” đến nay chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của H là tái phạm. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H ngày 18/5/2023, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho H vào ngày 18/5/2023 do H không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của H không có tài liệu nào khác chứng minh, nên Cơ quan điều tra không xác định được.
Về vật chứng, tài sản bị thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ:
- 01 Bì niêm phong số 648/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,076 gam ma túy Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định.
- Số tiền Việt Nam 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng), đây là số tiền của H do lao động mà có.
Về điều kiện kinh tế của bị cáo: Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định Phạm Văn H không có việc làm, thu nhập ổn định, ngoài tài sản bị thu giữ và đồ dùng sinh hoạt hàng ngày H không có tài sản riêng gì có giá trị.
Tại Cáo trạng số: 111/CT-VKS-VT ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 33 (Ba mươi ba) tháng tù đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 18/5/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng) của bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 648/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự bên trong có chứa 0,076 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định.
- Các vấn đề khác:
+ Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo vào ngày 18/5/2023, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp.
+ Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào ngày 18/5/2023 do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác chứng minh, nên Cơ quan điều tra không xác định được là phù hợp.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố V, tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung
[2.1]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 18/5/2023 tại khu vực thuộc tổ 1A, khu 8, phường Nông Trang, thành phố V, tỉnh P. Phạm Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng 0,137 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường Nông Trang, thành phố V, tỉnh P kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Phạm Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[2.2]. Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn thể hiện sự coi thường bất chấp pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đủ năng lực hành vi dân sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội và bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự do bị cáo có hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2022/HS-ST ngày 18/8/2022, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/03/2023, tính đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm. Với nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức được lỗi lầm của mình để sửa chữa, cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân, bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị ngoài số tiền bị thu giữ là 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng), số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
[4]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong số: 648/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P hoàn trả trong đó có 0,076 gam chất bột, cục màu trắng là Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành.
[5]. Các vấn đề khác:
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo vào ngày 18/5/2023, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp.
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào ngày 18/5/2023 do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác chứng minh, nên Cơ quan điều tra không xác định được là phù hợp.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[7]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt cũng như những nội dung khác là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
2. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 18/5/2023.
4. Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng). (Theo Biên lai thu tiền số AA/2022/0000189 ngày 15/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P).
5. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong có số: 648/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P hoàn trả trong đó có 0,076 gam chất bột, cục màu trắng là Heroine còn lại sau giám định. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/8/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P).
6. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7. Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh P; - VKSND TP. V, T. P; - CQCA TP. V, T. P; - THAHS, DS TP. V, T. P; - Trại tạm giam Công an tỉnh P; - UBND xã M, H. H, T. P; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị H |