vanban.org

Bản án 111/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh Q1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Q1 06 (sáu) năm tù. Về tổng hợp hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù theo Bản án hình sự số 267/2022/HS-ST ngày 09/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thành hình … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thanh Quốc phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh Q1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2023/HS-ST
Ngày 25-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ngọc.

2. Ông Nguyễn Đức Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2023/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Huỳnh Thanh Q1, sinh năm 1982 tại Thành phố H; thường trú: Số 233, Đường S, khu phố 4, phường L, thành phố Th, Thành phố H; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ sinh năm 1957; bị cáo có 03 anh chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất là bị cáo); có vợ tên Phan Thị Kim C, sinh năm 1982 và có 02 con (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2002); bị cáo có 02 tiền án: Ngày 22/02/2017 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 17/01/2020. Ngày 09/9/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chưa chấp hành án); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/11/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2010 (đã xóa án tích). bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2022 đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Bùi Công C, sinh năm 1981. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/11/2022, Q1 đón xe mô tô chở khách đi đến khu vực nhà thờ Xóm Thuốc thuộc Phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mua 2.000.000 đồng ma túy được bảo quản trong 03 túi nylon miệng kéo dính. Sau đó, Q1 về nhà phân số ma túy ra thành nhiều gói ma túy nhỏ, mục đích để sử dụng dần. Q1 dấu ma túy vào hộp giấy cùng với một số dụng cụ khác như cân tiểu ly, ống hút, 03 cái kéo nhỏ và bỏ vào tủ đựng quần áo. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 08/11/2022, tại nhà số 78/1A khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Huỳnh Thanh Q1 bị Công an thành phố Dĩ An phối hợp với công an phường Tân Đông Hiệp bắt người đang bị truy nã theo quyết định truy nã số 22 ngày 11/7/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An. Sau khi bắt giữ, khám xét nơi ở của Q1 phát hiện, thu giữ vật chứng: Trân sàn nhà phòng khách có 03 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 02 chai thủy tinh, 01 chai nhựa, 02 ống hút nhựa, 02 nỏ thủy tinh) bên trong mỗi nỏ đều còn lại một ít chất màu nâu. Trong tủ quần áo có 01 hộp giấy bên trong hộp giấy có 01 cân tiểu ly, 03 cái kéo nhỏ, 01 đoạn ống hút, 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, 01 túi nylon miệng kéo dính đựng 04 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, 01 túi nylon miệng kéo dính đựng 02 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng. Q1 khai nhận tinh thể màu trắng và chất màu nâu còn lại trong nỏ là ma túy đá.

Kết luận giám định số 517/KL-KTHS(MT) ngày 16/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Huỳnh Thanh Q1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng: 1,3175gam (M1-1); 0,4219 gam (M1-2); 7,5592 gam (M1-3). Mẫu tinh thể màu nâu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,4865 gam (M2).

Cáo trạng số 143/CT-VKS ngày 31/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Thanh Q1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo các điểm g và o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm g và o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Q1 từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Bì thư đã niêm phong ghi số 517/KL-KTHS bên trong có khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định gồm 9,5357gam; 01 Hộp giấy; 01 cân tiểu ly; 03 cái kéo nhỏ; 01 đoạn ống hút nhựa; 03 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 02 chai thủy tinh, 01 chai nhựa, 02 ống hút nhựa.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Q1 do chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng. Đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Căn cứ lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 08/11/2022, kết luận giám định và những chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 08/11/2022, tại nhà số 78/1A khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương bị cáo Huỳnh Thanh Q1 đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với tổng khối lượng là 9,7851gam. (Căn cứ kết luận giám định số 517/KL-KTHS(MT) ngày 16/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương). Bị cáo Q1 có 02 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 48/2017/HS-ST ngày 22/02/2017 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh và Bản án số 267/2022/HS-ST ngày 09/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương) chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo Q1 đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm g và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 143/CT-VKS ngày 31/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hiện nay, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ra sức tuyên truyền cho mọi người hiểu biết về tác hại của ma túy và đẩy mạnh nhiều biện pháp phòng ngừa. Bị cáo đã bị kết án nhiều lần về tội tàng trữ trái pháp chất ma túy, biết rõ hành vi tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật nhưng vì nghiện ngập nên vẫn cố tình thực hiện để nhằm phục vụ cho nhu cầu của bản thân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nhân thân: Bị cáo đã bị kết án và chấp hành án phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học để trở thành công dân có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội. Bản thân bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và những hệ lụy do ma túy mang lại nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ. cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo Q1 chưa chấp bản án số 267/2022/HS-ST ngày 09/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Do đó, sau khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ tổng hợp hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với một bì thư đã niêm phong bên trong có khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 9,5357gam cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 Hộp giấy; 01 cân tiểu ly; 03 cái kéo nhỏ; 01 đoạn ống hút nhựa; 03 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 02 chai thủy tinh, 01 chai nhựa, 02 ống hút nhựa cần tịch thu tiêu hủy.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là cao so với mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Đối tượng bán ma túy cho bị cáo Q1 hiện chưa rõ nhân thân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác minh xử lý sau.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1 hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh Q1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g và điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Q1 06 (sáu) năm tù.

2. Về tổng hợp hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù theo Bản án hình sự số 267/2022/HS-ST ngày 09/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương thành hình phạt chung của 02 (hai) bản án là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 11 năm 2022, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/8/2021 đến ngày 21/8/2021.

3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: Một bì thư đã niêm phong ghi số 517/PC09 bên trong có khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 9,5357gam; 01 hộp giấy; 01 cân tiểu ly; 03 cái kéo nhỏ; 01 đoạn ống hút nhựa; 03 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 02 chai thủy tinh, 01 chai nhựa, 02 ống hút nhựa.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1 hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Huỳnh Thanh Q1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ