vanban.org

Bản án 111/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Mạnh C và Nguyễn Đình T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Lê Mạnh C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/10/2022. Bị cáo Nguyễn Đình T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Mạnh C + ĐB - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Mạnh C và Nguyễn Đình T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2023/HS-ST
Ngày: 28/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Quỳnh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Cát Tưởng

2. Bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Lệ Mỹ - Kiểm sát Viên

Ngày 28/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Lê Mạnh C - Sinh năm 1977; tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký NKTT: ĐKHKTT: SN 11/33/ phố L, phường Đ, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá; Nơi ở hiện tại: Số nhà 03 phố V, phường Q, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lê Văn L (đã chết) và bà Lê Thị P; Vợ: Nguyễn Thị T (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 09/6/2015 Công an thành phố Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Ngày 18/9/2015 Công an phường Ngọc Trạo, thành phố Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/10/2022 đến ngày 03/11/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hoá. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Đình T - Sinh năm 1980; tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Số nhà 62 phố N, phường Đ, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Đình Th và bà Nguyễn Thị H; Vợ: Đinh Thị N và có 03 con lớn sinh năm 2013 nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/11/2007 Công an phường Ba Đình, thành phố Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi ‘Sử dụng trái phép chất ma tuý”; Ngày 24/4/2008 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Thanh Hoá; Ngày 19/10/2010 Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Ngày 27/11/2012 Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/10/2022 đến ngày 03/11/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hoá. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Mạnh C và Nguyễn Mạnh T là bạn nghiện ma túy với nhau nên khoảng 11h30’ ngày 28/10/2022 T gọi điện thoại nhờ C mua Heroine để cùng sử dụng. C đồng ý và hẹn T ra khu vực bên hông tượng đài L, phường L1, thành phố Thanh Hoá. Đến nơi, C và T thỏa thuận mỗi người góp 200.000 đồng để C mua ma túy cùng sử dụng. Sau đó, T đưa cho C 300.000đ để mua Heroine (trong đó 100.000đ T trả nợ cho C và 200.000đ T góp mua Heroine), C cầm tiền của T đưa, mua được 01 gói Heroine, cất giấu trong túi áo ngực của mình rồi đi về nhà T để cùng sử dụng ma tuý với T. Khi đến ngã ba L – Q, phường Đ, thành phố Thanh Hoá thì bị Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố Thanh Hoá kiểm tra. C đã tự giác lấy trong túi áo ngực bên trái của mình ra gói Heroine vừa mua giao nộp cho Công an. Ngoài ra Tổ công tác còn tạm giữ của C 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J8 màu đen gắn số thuê bao 0393338539 và 0915835474; 01 (một) xe moto nhãn hiệu Honda Airblade BKS 36B1-73843 và số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Chiều ngày 28/10/2022, sau khi nghe tin C bị bắt, Nguyễn Đình T đã đến Công an phường Đ đầu thú và khai nhận hành vi góp tiền và nhờ C mua ma tuý để cùng sử dụng. Cơ quan công an đã tạm giữ của T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 gắn số thuê bao 0926520886.

Về nguồn gốc số ma tuý nói trên, Lê Mạnh C khai nhận nhờ Lê Gia H, sinh năm 1979, trú tại số nhà 251 phố K, phường Đ, thành phố Thanh Hoá mua hộ với giá 200.000đ.

Kết luận giám định số 3791/KL-KTHS ngày 02/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất cục bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,161g (không phẩy một sáu một gam), loại Heroine (BL 41).

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Nguyễn Đình T và Lê Mạnh C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập.

Đối với Lê Gia H, là người mà Lê Mạnh C khai đã mua hộ ma tuý cho C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hoá đã xác minh, triệu tập Lê Gia H đến làm việc. Quá trình lấy lời khai và đối chất với Lê Mạnh C, Lê Gia H khai báo không bán, không mua hộ hay đưa ma tuý cho C. Ngoài lời khai của C, không có tài liệu chứng cứ khác nên không cơ căn cứ để xử lý đối với Lê Gia H

Tại bản cáo trạng số: 82/CTr-VKS ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá đã truy tố Lê Mạnh C và Nguyễn Đình T về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS;

Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58; Điều 38 BLHS. Mức hình phạt VKS đề nghị đối với bị cáo Lê Mạnh C, Nguyễn Đình T mỗi bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù.

Ngoài ra VKS còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện VKS.

Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, tuy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì.

Về hành vi phạm tội:

Hồi 12h30’ ngày 28/10/2022, Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố Thanh Hoá làm nhiệm vụ tại ngã ba L – Q, phường Đ, thành phố Thanh Hoá, phát hiện bắt quả tang Lê Mạnh C đang cất giấu 0,161g Heroine do cùng với Nguyễn Đình T góp tiền mua để sử dụng chung.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của Lê Mạnh C và Nguyễn Đình T có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Là một trong những tác nhân gây lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh.

Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, bản thân các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo C từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy bị cáo T đã từng bị xét xử nhiều lần về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, chỉ vì thỏa mãn nhu cầu của mình mà lao vào con đường phạm tội.

Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, câu kết chặt chẽ. Bị cáo Nguyễn Đình T là người chủ động gọi điện và góp tiền cho bị cáo Lê Mạnh C mua ma túy, bị cáo C là người trực tiếp đi mua ma túy để cả hai cùng sử dụng. Do đó vai trò của từng bị cáo bị trong vụ án là ngang nhau.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo C có bố mẹ đẻ tham gia kháng chiến, được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến, bị cáo T sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên các bị cáo được hưởng thêm tinh tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào nhân thân, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và tính chất nghiêm trọng của tội phạm ma túy, cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Do các bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định trong phong bì niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa là vật nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, nên căn cứ Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe moto Honda Airblade BKS 36B1-73843; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J8 màu đen gắn số thuê bao 0393338539 và 0915835474; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 gắn số thuê bao 0926520886 là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên căn cứ Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với số tiền 300.000đ thu giữ của C, có 200.000đ là tiền C góp cùng T để mua ma túy nhưng chưa mua được nên áp dụng Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu sung công quỹ nhà nước. Còn số tiền 100.000 là tiền T đã trả cho C, đây là tiền C lao động mà có được nên áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLHS trả lại cho bị cáo Lê Mạnh C.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án (cho cả hai bị cáo).

Tuyên bố: Bị cáo Lê Mạnh C và Nguyễn Đình T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

- Bị cáo Lê Mạnh C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/10/2022.

- Bị cáo Nguyễn Đình T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/10/2022.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự, kèm theo chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đăng, Hoàng Văn Dương, Vi Anh Quyền.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 và 01 (một) điện thoại di động Samsung J8 đã qua sử dụng số Imel 1: 359051097082903, Imel 2: 359051097082901, kèm sim; 01 (một) xe moto nhãn hiệu Honda Airblade BKS 36B1-73843 màu trắng đỏ, có một gương trái, gương phải không có. Yên xe bị rách, vỡ đèn trước và số tiền 200.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo Lê Mạnh C số tiền 100.000 đồng

Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 92/THA ngày 10/02/2023 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Án phí: Bị cáo Lê Mạnh C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ