vanban.org

Bản án 111/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 05/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt: Đặng Văn S 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bị áp giải thi hành án. * Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn S - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 111/2023/HS-ST
Ngày 05 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kim Đính;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Mỳ, bà Nguyễn Ngọc Cúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mến là Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2023/TLST-HS ngày 06/6/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Đặng Văn S, sinh năm 1974, tại tỉnh Thái Bình;

Nơi đăng ký thường trú: Thôn 2, xã Vũ Hòa, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; con ông Đặng Văn L (đã chết) và con bà Hoàng Thị K, sinh năm 1934; vợ là Nguyễn T, sinh năm 1981; có 02 con (sinh năm 2000, 2003); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại.

* Bị hại: Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1987

Nơi cư trú tại D3/089, ấp Nguyễn Huệ 2, xã Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

* Nguyên đơn dân sự: Ban an toàn giao thông tỉnh Đồng Nai (địa chỉ tại số 18, Phan Chu Trinh, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

* Bị đơn dân sự: Nguyễn Viết T, sinh năm 1975

Nơi cư trú tại số nhà 19/12, khu phố 4, phường An Phú Đông, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa; bị hại, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 23/12/2021, bị cáo có giấy phép lái xe, điều khiển xe ô tô trên đường DT 767 đến Km 08 thuộc ấp 6, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu khu vực có ngã ba giao nhau giữa đường DT 767 với đường Cộ Cây Xoài. Trong lúc điều khiển xe bị cáo có lúc ngủ gật nên xe ô tô tông vào dải phân cách cố định giữa đường đi sang phần đường bên trái va chạm vào đầu xe ô tô biển số 60C-482.19 của bị hại Nguyễn Duy Đ đang điều khiển xe đúng phần đường từ hướng từ thị trấn Vĩnh An đi ngã ba Trị An.

Hậu quả Nguyễn Duy Đ bị gãy hai chân được cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy; hư hỏng 02 xe ô tô.

+ Vật chứng: Tạm giữ tài sản:

Xe ô tô tải hiệu CAMC biển số 51D-256.92; Giấy chứng nhận kiểm định số 8193667; Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số 893404568542; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 51D-256.92 tên Nguyễn Viết T; Giấy phép lái xe hạng C số 790160077247 tên Đặng Văn S;

Xe ô tô tải HUYNDAI biển số 60C-482.19; Giấy chứng nhận kiểm định số 7114252; Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc chủ xe ô tô số 0206809; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 60C-482.19 tên Nguyễn Duy Đ.

+ Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường thẳng, nơi đường giao nhau (ngã ba), mặt đường nhựa phẳng, có dải phân cách cứng chia 02 phần đường, chiều rộng mặt đường là 12m. Hiện trường được cố định bởi trụ điện số 152/222 đứng ngoài mặt đường. Lấy lề phải theo hướng thị trấn Vĩnh An đến ngã ba Trị An làm lề chuẩn đo vẽ hiện trường.

Trên mặt đường phát hiện dấu vết phanh dài 60m30, rộng 0m50 kéo dài hướng ngã ba Trị An đến Vĩnh An. Điểm đầu vết phanh cách lề chuẩn 5m90; điểm cuối vết phanh tiếp giáp với lốp bánh sau bên trái xe ô tô tải 51D-256.90.

Trên mặt đường phát hiện nhiều mảnh vỡ kích thước 14m x 5m70, Tâm mảnh vỡ cách lề chuẩn 3m00, cách trục bánh sau bên phải xe ô tô 51D-256.92 là 14m50. Xe ô tô tải biển số 51D-256.92 dừng trên mặt đường, đầu xe quay hướng Vĩnh An, đuôi xe quay hướng ngã ba Trị An. Trục bánh trước, bánh sau cách lề phải hướng đi lần lượt 0m60; 0m50, 1 Xe ô tô tải biển số 60C-482.19 dùng ngoài mặt đường, đầu xe quay hướng lề trái theo hướng Vĩnh An đến ngã ba Trị An, đuôi xe quay hướng lề chuẩn. Trục bánh trước nằm ngoài lề đường, trục bánh sau bên trái cách lề phải hướng đi 01m60; 0,8m.

Dải phân cách cứng bằng kim loại nằm trên mặt đường bị hư kích thước 10m80 x 0m80.

Trụ điện số 152/222 đứng ngoài mặt đường cách mép lề đường 2m00; cách trục bánh sau bên phải xe 60C-482.19 là 5m; cách tâm mảnh vỡ là 10m50. (Bút lục 01-10).

+ Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan tai nạn giao thông xác định:

Xe ô tô tải biển số 60C-48219: Mặt ngoài cản hông bên trái kích thước 2m45 x 0m33 bị móp méo; Kính chắn gió phía trước kích thước 1m78 x 0m63 bị bể vỡ hoàn toàn; vết thụng kích thước 26cm x 32cm mặt cabin phía trước bên trái hướng trước ra sau, có nhiều dấu vết màu đỏ (nghi là máu); Cụm bốt lái bị hư hỏng hoàn toàn; Cụm đèn xi nhan trước bên trái bị bể vỡ văng rời khỏi vị trí; ba đờ xốc phía trước bể văng khỏi vị trí; Cabin trước bên trái bị móp méo hướng từ trước ra sau; Két nước làm mát, giàn tản nhiệt gió bị bể vỡ, hư hỏng.

Xe ô tô tải biển số 51D-25692: Kính chắn gió phía trước bể vỡ kích thước 2m30 x 0m83 hướng từ ngoài vào trong; Mặt ngoài phía dưới vỏ cabin phía trước bể vỡ kích thước 2m60 x 0m47; Cụm đèn xi nhan phía trước bên trái bể vỡ văng khỏi vị trí; Mặt ca lăng, ba đờ xốc trước bể vỡ văng rời khỏi vị trí.

+ Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1437/TgT ngày 05/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Duy Đ là 87% (tám mươi bảy phần trăm).

+ Tại Kết luận định giá tài sản số 33/KL-ĐGTS ngày 20/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Vĩnh Cửu xác định:

Xe ô tô tải hiệu CAMC biển số 51D-25692 bị hư hỏng tại thời điểm xảy ra vụ việc 6.800.000 đồng.

Xe ô tô tải hiệu HUYNDAI, biển số 60C-48219 bị hư hỏng tại thời điểm xảy ra vụ việc 72.966.000 đồng.

+ Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-ĐGTS ngày 28/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Vĩnh Cửu xác định: 05 khung dải ngăn cách kích thước 1876x598 bị hư hỏng tại thời điểm xảy ra vụ việc là 5.566.480 đồng; 05 trụ đỡ kích thước 800xD114 bị hư hỏng tại thời điểm xảy ra vụ việc 3.758.590 đồng.

Tổng giá trị tài sản thiệt hại 89.091.070 đồng.

+ Xử lý vật chứng: Công an huyện Vĩnh Cửu đã giao trả:

Xe ô tô biển số 51D-25692; Giấy chứng nhận kiểm định số 8193667; Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 51D-25692 với chủ sở hữu là Nguyễn Viết T.

Xe ô tô biển số 60C-48219; Giấy chứng nhận kiểm định số 7114252; Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số đăng ký 60C-48219 với chủ sở hữu là Nguyễn Duy Đ. Giấy phép lái xe hạng C số 790160077247 của Đặng Văn S (Bút lục 53-63).

+ Trách nhiệm dân sự:

Đặng Văn Sự và chủ xe là ông Nguyễn Viết T đã bồi thường cho Nguyễn Duy Đ 410.000.000 đồng. Ông Đ không yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (Bút lục số 151-155).

Bị cáo đã sửa chữa, khắc phục phần dải phân cách bị hư hỏng.

*Cáo trạng số: 113/CT-VKSVC ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội như sau:

Bị cáo điều khiển xe có lúc ngủ nên xe đi không đúng phần đường quy định, vi phạm Luật giao thông đường bộ, điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi của bị cáo nguy hiểm trong xã hội đã gây tổn hại đến sức khỏe của bị hại.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại với bên bị hại, nguyên đơn dân sự xong, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo 10 tháng tù đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nữa nên không xem xét.

Vật chứng của vụ án là các xe trên, Công an huyện Vĩnh Cửu đã trả lại các xe đối với chủ sở hữu tài sản là đúng pháp luật.

* Bị cáo trình bày ý kiến: Nội dung Cáo trạng đúng sự thật, bị cáo điều khiển xe có buồn ngủ nên xe đi qua phần đường bên trái va chạm xe của bị hại, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hoạt động tiến hành tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đến nay, người tham gia tố tụng trong vụ án không có khiếu nại. Hoạt động tiến hành tố tụng của Công an huyện Vĩnh Cửu và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp pháp luật.

Bị hại, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án, có thể công bố lời khai của họ để tranh tụng nên không ảnh hưởng đến hoạt động xét xử vụ án. Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của Kiểm sát viên, xét xử vụ án vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về trách nhiệm hình sự:

Ý kiến trình bày của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với lời khai của của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng, tài liệu khác của vụ án đã được Hội đồng xét xử kiểm tra tại phiên tòa. Căn cứ các chứng cứ này, chứng minh: Bị cáo vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đường bộ (điều khiển xe không đúng phần đường quy định), đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố bị cáo đúng quy định pháp luật.

* Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, khi tham gia giao thông bị cáo chưa tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ, gây ra thiệt hại về sức khỏe, tinh thần của bị hại. Hành vi của bị cáo nguy hiểm trong xã hội, cần phải áp dụng hình phạt tù tương xứng đối với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại đối với các đương sự trong vụ án; bị cáo không có tiền án - tiền sự; bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Công an huyện Vĩnh Cửu đã quyết định trả lại các xe trên là vật chứng trong vụ án với các chủ sở hữu tài sản là đúng quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Đến nay bị hại, nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nữa nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về chi phí tố tụng:

Bị cáo là người bị kết án phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Luận tội của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp chứng cứ vụ án, quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260 và các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt: Đặng Văn S 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bị áp giải thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự:

Đến nay, bị hại, nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nữa nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

* Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt Bản án hợp lệ.

Cỡ chữ