vanban.org

Bản án 111/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trương Tấn D, Phạm Văn T2, Đinh Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt ị cáo Phạm Văn T2: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ: ngày 11/7/2023. Xử phạt ị cáo Trương Tấn D: 02 hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ: ngày 11/7/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRƯƠNG TẤN D - ĐP - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trương Tấn D, Phạm Văn T2, Đinh Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM MỸ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2023/HS-ST
Ngày: 24/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tường Vy.

Các Hội thẩm nhân dân

+ Bà Vũ Thị Thùy Dương;

+ Ông Phạm Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Thái Học, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119 2023 QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối v i các ị cáo:

1. Họ và tên: Trương Tấn D, sinh năm 1990 tại: Đồng Nai.

- Tên gọi khác: không.

Gi i tính: Nam.

- HKTT: tổ A, ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai;

- Chỗ ở hiện nay: như trên;

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Phật.

- Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12.

- Họ và tên cha: Trương Văn N (chết);

- Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1961.

- Chưa có vợ, con.

- Tiền án, tiền sự: không.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/7/2023 và tạm giam đến nay.

2. Họ và tên: Đinh Đức T, sinh năm 1993 tại: Đồng Nai.

- Tên gọi khác: không.

Gi i tính: Nam.

- HKTT: ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai;

- Chỗ ở hiện nay: như trên;

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Phật.

- Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12.

- Họ và tên cha: Đinh Đức T1, sinh năm 1964;

- Họ và tên mẹ: Bùi Thị H, sinh năm 1963.

- Họ và tên vợ: Nguyễn Thị O, sinh năm 2000 và có 01 người con sinh năm 2018

- Tiền án, tiền sự: không.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/7/2023 và tạm giam đến nay.

3. Họ và tên: Phạm Văn T2, sinh năm 1981 tại: Hải Dương.

- Tên gọi khác: không.

Gi i tính: Nam.

- HKTT: ấp H, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai;

- Chỗ ở hiện nay: như trên;

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Phật.

- Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 5/12

- Họ và tên cha: Phạm Văn H1 (chết);

- Họ và tên mẹ: Ngô Thị L, sinh năm 1950.

- Chưa có vợ, con.

- Tiền án: Ngày 2021, bị Tòa án nhân dân huyện cẩm Mỹ xử phạt 07 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự 2015. Ngày 06/7/2022, chấp hành xong hình phạt tù. Hiện chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không;

- Nhân thân: Ngày 22/12/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 03 năm tù về tội “Mua án trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999. Ngày 29/8/2012 chấp hành xong hình phạt tù. Hiện đã được xóa án tích.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/7/2023 và tạm giam đến nay.

Các ị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Vũ Đình Q, sinh năm: 1981; địa chỉ: số C B, phường D, tp ., tỉnh BRVT. (Vắng mặt)

+ Ông Phạm Văn T3, sinh năm: 1989; địa chỉ: ấp H, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

- Người làm chứng: bà Trương Thị Như Q1, sinh năm: 1986; địa chỉ: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: các ị cáo Trương Tấn D, Phạm Văn T2, Đinh Đức T là những đối tượng nghiện ma túy.

Vào khoảng 16 giờ ngày 11/7/2023, Phạm Văn T2 và Đinh Đức T đến nhà Trương Tấn D tại ấp A, xã X, huyện C chơi. Tại đây, cả ba bàn nhau cùng góp tiền để mua ma túy về sử dụng. Dư góp số tiền 200.000 đồng, T góp 20.000 đồng, Tân góp 50.000 đồng, tổng cộng là 270.000 đồng. D cầm số tiền trên và điều khiển xe mô tô hiệu Wave BS 72H6-9416 của T2 đi đến quán K1 thuộc ấp S, xã X, huyện C gặp một người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch mua một gói Heroin v i giá 270.000 đồng bỏ vào trong túi quần đang mặc rồi điều khiển xe về nhà. Khi D vừa về đến nhà thì bị Công an huyện C bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 1490/KL-KTHS ngày 18/7/2023, Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Chất bột màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4578gam, loại Heroine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,4101 gam.

Vật chứng vụ án:

- 01 gói niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh Đ số 1490/KL-KTHS ngày 18/7/2023, bên trong có chứa 0,4101 gam Heroine. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.

- 01 xe mô tô hiệu Honda wave, biển số: 72H6-9416 là của anh Phạm Văn T3. Khi T2 mượn xe anh T3 không biết là để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả xe lại cho anh T3.

Bản cáo trạng số: 112/CT-VKSCM ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Phạm Văn T2, Đinh Đức T, Trương Tấn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị HĐXX xử phạt:

- Bị cáo T2 mức án từ: 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;

- Bị cáo D và bị cáo T mức án từ: 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

* Các bị cáo nói lời sau cùng:

- Bị cáo D và bị cáo T2: không có ý kiến;

- Bị cáo T: bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, kính xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo s m về v i gia đình, hòa nhập xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi cấu thành tội phạm: khoảng 16 giờ ngày 11/7/2023, Trương Tấn D, Phạm Văn T2, Đinh Đức T bàn nhau góp tiền để mua ma túy về sử dụng. Thực hiện ý định trên, D góp số tiền 200.000 đồng, T góp 20.000 đồng, Tân góp 50.000 đồng, tổng cộng là 270.000 đồng. D cầm số tiền trên và điều khiển xe mô tô hiệu Wave BS 72H6-9416 của T2 đi đến quán K1 thuộc ấp S, xã X, huyện C gặp một người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch mua một gói Heroin v i giá 270.000 đồng bỏ vào trong túi quần đang mặc rồi điều khiển xe về nhà (lúc này trong nhà D có T2 và T đang chờ). Khi D vừa về đến nhà thì bị Công an huyện C bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 1490/KL-KTHS ngày 18/7/2023, Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Chất bột màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4578gam, loại Heroine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,4101 gam.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp v i kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

V i những chứng cứ trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng của VKSND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố các ị cáo Trương Tấn D, Phạm Văn T2, Đinh Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS phù hợp v i quy định của pháp luật.

Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: xét thấy, các bị cáo là người đã trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự và nhận thức đầy đủ nên biết được tác hại nguy hiểm của việc sử dụng ma túy; đồng thời biết rõ hành vi sử dụng, cũng như tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi trái pháp luật. Nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, các bị cáo đã àn nhau góp tiền để cùng mua ma túy và cất giữ để sử dụng, đó cũng là lý do đưa các ị cáo vào con đường phạm tội.

Để đưa ra mức hình phạt tương xứng v i hành vi của các ị cáo, HĐXX cần xem xét toàn ộ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối v i từng ị cáo:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các ị cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; ị cáo D và ị cáo T nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Các tình tiết trên được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ị cáo D và T không có tình tiết tăng nặng TNHS; ị cáo Phạm Văn T2 có 01 tiền án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, ị Tòa án nhân dân huyện cẩm Mỹ xử phạt 07 tháng tù, ngày 06/7/2022, chấp hành xong hình phạt tù. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Trong vụ án này, các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo Trương Tấn D là người góp tiền nhiều nhất và là người trực tiếp đi mua ma túy nên vai trò của bị cáo cao hơn các ị cáo khác. Tuy nhiên, vì bị cáo T2 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, đồng thời nhân thân đã từng bị xử về tội “Mua án trái phép chất ma túy” nên trong vụ án này bị cáo T2 phải chịu mức hình phạt cao hơn ị cáo D và bị cáo T. Bị cáo D có vai trò cao hơn nên phải chịu mức hình phạt cao hơn ị cáo T.

V i nhận định trên, xét bản thân các bị cáo đã sử dụng ma túy một thời gian dài, được gia đình và xã hội tạo điều kiện để cai nghiện nhưng các ị cáo vẫn không thay đổi mà vẫn tiếp tục sử dụng để từ đó dẫn các bị cáo đến con đường phạm tội, để các bị cáo không tiếp tục sử dụng ma túy mà đó cũng là nguyên nhân các bị cáo phạm tội; đồng thời để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành một công dân tốt, có ích cho xã hội, nên cần giam giữ các bị cáo tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật TTHS. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng vụ án: Vì là vật thuộc loại nhà nư c cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh Đ số 1490/KL-KTHS ngày 18/7/2023, bên trong có chứa 0,4101 gam Heroine. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.

- 01 xe mô tô hiệu Honda wave, biển số: 72H6-9416 là của anh Phạm Văn T3. Khi T2 mượn xe anh T3 không biết là để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả xe lại cho anh T3 là phù hợp, nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: các bị cáo Trương Tấn D, Phạm Văn T2, Đinh Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.

* Đối v i quan điểm của VKSND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai về hành vi cấu thành tội phạm phù hợp v i quan điểm của HĐXX nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố các bị cáo Trương Tấn D, Phạm Văn T2, Đinh Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

Xử phạt ị cáo Phạm Văn T2: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ: ngày 11/7/2023.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

+ Xử phạt ị cáo Trương Tấn D: 02 hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ: ngày 11/7/2023.

+ Xử phạt ị cáo Đinh Đức T: 01 (một) năm 06 sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ: ngày 11/7/2023.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 2 Điều 106 của BLTTHS;

+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh Đ số 1490/KL-KTHS ngày 18/7/2023, bên trong có chứa 0,4101 gam Heroine.

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai).

- Về án phí: căn cứ Điều 135 BLTTHS 2015; Nghị quyết số: 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trương Tấn D, Phạm Văn T2, Đinh Đức T, mỗi bị cáo nộp 200.000 đ Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ