vanban.org

Bản án 111/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 111/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 02/02/2023
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Diệu Huệ;

2. Bà Lê Thị Tý.

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Tuyết Mai – Là thư ký Tòa án nhân dân

quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên toà: ông Trần Quang Minh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số

1388/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022, về việc “tranh chấp ly

hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 498/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày

21 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST-HNGĐ

ngày 11 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Lương Đạt M, sinh năm: 1973; thường trú: 114/10

đường Chiến L, khu phố 9, phường Bình Trị Đ, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Ông Lương Đạt M có đơn yêu cầu vắng mặt.

2. Bị đơn: bà Lục Thị Mỹ L, sinh năm: 1978; thường trú: 114/10 đường

Chiến L, khu phố 9, phường Bình Trị Đ, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh;

tạm trú: 13 đường Trương Phước P, phường Bình Trị Đ, quận Bình T, Thành

phố Hồ Chí Minh.

Bà Lục Thị Mỹ L vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện nộp cho Tòa án và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án

có nội dung như sau:

Nguyên đơn ông Lương Đạt M trình bày: ông và bà Lục Thị Mỹ L có thời gian quen biết và tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1998 có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 114/KH quyển số 01/98 do Ủy ban nhân dân Phường 01, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31 tháng 10 năm 1998.

Quá trình chung sống: ông Lương Đạt M và bà Lục Thị Mỹ L chung sống

hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc từ đó dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Ông và bà Lục Thị Mỹ L sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lục Thị Mỹ L.

Về con chung: trong quá trình chung sống ông và bà Lục Thị Mỹ L có 02

(hai) con chung tên Lương Gia H (nữ), sinh ngày 14 tháng 12 năm 2001 (đã thành niên) và Lương Gia H (nữ), sinh ngày 08 tháng 7 năm 2013.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: ông yêu cầu được trực tiếp nuôi

dưỡng con chung Lương Gia H (nữ), không yêu cầu bà Lục Thị Mỹ L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: ông xác định không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: ông xác định không có.

Bị đơn bà Lục Thị Mỹ L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý

vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để ông đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng bà Lục Thị Mỹ L vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án ý kiến trình bày của ông đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

- Ông Lương Đạt M có đơn yêu cầu vắng mặt;

- Bà Lục Thị Mỹ L vắng mặt không lý do;

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố

Hồ Chí Minh:

Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong thời hạn chuẩn bị

xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ nội dung quy định về thụ lý, thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và đúng trình tự tố tụng quy định tại các Điều 196, 204, 205, 209, 210, 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc giao hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử tuân thủ đúng quy định tại Khoản 1, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ

luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70,

72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn.

- Các đương sự đều không nộp thêm chứng cứ cho Tòa án và không yêu

cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: ông Lương Đạt

M và bà Lục Thị Mỹ L có đăng ký kết hôn, ông Lương Đạt M yêu cầu ly hôn

với bà Lục Thị Mỹ L nên đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết

của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn có cư trú tại quận Bình

Tân nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân,

Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a

khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Về thủ tục tố tụng: bị đơn bà Lục Thị Mỹ L đã được Tòa án triệu tập hợp

lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do; Nguyên

đơn ông Lương Đạt M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét

xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm a, điểm b Khoản 2

Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn 144/KH, quyển số 01/98 do Ủy ban

nhân dân Phường 01, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31 tháng 10

năm 1998 cấp cho ông Lương Đạt M và bà Lục Thị Mỹ L cùng lời khai của ông

Lương Đạt M về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên có căn cứ

xác định hôn nhân giữa ông Lương Đạt M và bà Lục Thị Mỹ L là hôn nhân hợp

pháp.

Bị đơn bà Lục Thị Mỹ L đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải

quyết vụ án mà không có lý do và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể

hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do vậy Tòa án

căn cứ vào các chứng cứ và lời khai do nguyên đơn cung cấp để xem xét giải

quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: ông Lương Đạt M và bà Lục Thị Mỹ L chung sống

hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh

mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc từ đó dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Ông và bà Lục Thị Mỹ L sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lục Thị Mỹ L. Bà Lục Thị Mỹ L vắng mặt tại tất cả những buổi làm việc, phiên hòa giải, công khai chứng cứ do Tòa án tiến hành và tại phiên tòa xét xử vụ án, mặc dù bà Lục Thị Mỹ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để giải quyết vụ án, bà cũng không có ý kiến về việc ông Lương Đạt M yêu cầu ly hôn gửi đến Tòa án. Cho thấy, bà Lục Thị Mỹ L không có thiện chí hàn gắn gia đình và không còn yêu thương, tôn trọng ông Lương Đạt M, không quan tâm đến hôn nhân của ông bà. Mặt khác, ông Lương Đạt M và bà Lục Thị Mỹ L không còn chung sống với nhau từ năm 2019. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông Lương Đạt M và bà Lục Thị Mỹ L đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau”, “Vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau...” và Điều 56 quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Như vậy, ông Lương Đạt M và bà Lục Thị Mỹ L đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng là không chung sống, thương yêu, tôn trọng, quan tâm đến nhau.

Từ những nhận định nêu trên, căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51 và khoản

1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lương Đạt M đối với bà Lục Thị Mỹ L.

Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: ông Lương Đạt M và

bà Lục Thị Mỹ L có 02 (hai) con chung tên Lương Gia H (nữ), sinh ngày 14 tháng 12 năm 2001 (đã thành niên) và Lương Gia H (nữ), sinh ngày 08 tháng 7 năm 2013. Ông Lương Đạt M yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ Hân và không yêu cầu bà Lục Thị Mỹ L cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Lục Thị Mỹ L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, điều này chứng tỏ bà không quan tâm đến hôn nhân giữa bà và ông Lương Đạt M cũng như không quan tâm đến yêu cầu về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Mặt khác, căn cứ vào Khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Đến thời điểm Tòa án xét xử vụ án trẻ Lương Gia H (nữ), sinh ngày 08 tháng 7 năm 2013 đã trên 07 tuổi, Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của trẻ H và cháu muốn sống cùng với cha sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung Lương Gia H cho ông Lương Đạt M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lương Đạt M không yêu cầu bà Lục Thị Mỹ L

cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: ông Lương Đạt M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên

Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: ông Lương Đạt M xác định không có nên không xem xét.

. Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội

đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên đã trình bày tại phiên

tòa về hướng giải quyết vụ án.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Lương Đạt M phải chịu án phí theo

quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1

Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm a điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều

266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 19, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82,

Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Đạt M về việc xin ly hôn

với bà Lục Thị Mỹ L.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: ông Lương Đạt M được ly hôn với bà Lục Thị

Mỹ L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 114/KH, quyển số 01/98 do Ủy ban nhân dân

Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31 tháng 10 năm 1998

cho ông Lương Đạt M và bà Lục Thị Mỹ L không còn giá trị.

1.2. Về con chung: ông Lương Đạt M và bà Lục Thị Mỹ L có 02 (hai) con

chung tên Lương Gia H (nữ), sinh ngày 14 tháng 12 năm 2001 (đã thành niên)

và Lương Gia H (nữ), sinh ngày 08 tháng 7 năm 2013.

Giao trẻ Lương Gia H (nữ) cho ông Lương Đạt M được trực tiếp chăm

sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận sự tự nguyện của ông Lương Đạt M

không yêu cầu bà Lục Thị Mỹ L cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Lục Thị Mỹ L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được

cản trở. Vì lợi ích của con Tòa án có thể quyết định thay đổi việc cấp dưỡng

nuôi con khi có yêu cầu của cha, mẹ; thay đổi quyền nuôi con của ông Lương Đạt M khi ông Lương Đạt M, bà Lục Thị Mỹ L hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu.

Ông Lương Đạt M có quyền yêu cầu bà Lục Thị Mỹ L thực hiện nghĩa vụ

theo quy định tại điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia Đình năm 2014; yêu cầu bà Lục Thị Mỹ L cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Ông Lương Đạt M cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà

Lục Thị Mỹ L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

1.3. Về tài sản chung: ông Lương Đạt M không yêu cầu Tòa án giải quyết

nên không xem xét.

1.4. Về nợ chung: ông Lương Đạt M xác định không có nên không xem

xét.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm

nghìn đồng) ông Lương Đạt M phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà ông Lương Đạt M đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0009458 ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, ông Lương Đạt M đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Các đương sự thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo: đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng

cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ