vanban.org

Bản án 111/2023/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/02/2023 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

300, Khoản 2 Điều 308, Điều 313 Bộ lu t Tố tụng dân sự năm 2015;

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. I. Chấp nh n yêu c u kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 300, Khoản 2 Điều 308, Điều 313 Bộ lu t Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2023/HNGĐ-PT
Ngày: 01 – 02 – 2023
V/v Tranh chấp ly hôn, tài sản chung,
nợ chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phan Trịnh Minh Đức.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Hoàng Anh;

Bà Hoàng Thị Bích Duyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố

H.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Võ

Phạm Phương Hạnh– Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H xét xử

phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 115/2022/TLPT-HNGĐ

ngày 11 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, tài sản chung, nợ chung”.

Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 1173/2022/HNGĐ-ST ngày 25 tháng

8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện HM, Thành phố H bị ông Nguyễn Khắc T

kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2023/QĐ-PT ngày 03

tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tr n Thị Nữ Minh Tr, sinh năm: 1980.

Địa ch : Số B69/18B đường NTS, ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Tr n Thị Nữ Minh Tr về ph n tài sản

chung: Ông Đỗ uân T, sinh năm 1981.

Địa ch : Số 410B/30 đường HG, Phường X, Qu n Y, Thành phố H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tr n Thị Nữ Minh Tr: Ông

Nguyễn Văn H - Lu t sư Văn phòng Lu t sư V thuộc Đoàn Lu t sư Thành phố H.

Địa ch : Số 205/8A11, đường THĐ, Phường X, Qu n Y, Thành phố H.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Khắc T, sinh năm: 1972.

Địa ch : Số B69/18B đường NTS, ấp MH2, x XTĐ, huyện HM, Thành phố

H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Khắc T gồm:

1. Ông Kim Ron T – Lu t sư Công ty Lu t TNHH TV thuộc Đoàn Lu t sư

Thành phố H.

2. Ông Phan M u N – Lu t sư Công ty Lu t TNHH TV thuộc Đoàn Lu t sư

Thành phố H.

Cùng địa ch : Số 200/9 đường NHT, phường TT, qu n TP, Thành phố H.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP A.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Hoàng N.

Địa ch : L u 6, 444A-446 đường CMT8, Phường A, Qu n B, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 03/7/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày

10/10/2019, bản tự khai, biên bản hòa giải, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn bà Trần Thị N Minh Tr trình bày:

Sau một thời gian tìm hiểu, vào năm 1998 bà Tr và ông Nguyễn Khắc T đ tự

nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân x BV, huyện LK, t nh ĐN theo giấy chứng nh n kết hôn số 41, quyển số 02 ngày 01/12/1998.

Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thu n, c i vã trong thời

gian dài khiến cho cuộc sống gia đình ngày càng trở nên bế tắc, vợ chồng sống chung một nhà nhưng không cùng quan điểm chung, ông T thường xuyên bạo hành bà Tr về tinh th n và thể chất. T tháng 4/2019 vợ chồng bắt đ u sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không có liên lạc, không còn quan tâm chăm sóc l n nhau. Nay nh n thấy tình cảm vợ chồng đ trở nên lạnh nhạt, không còn yêu thương tôn trọng nhau, không thể hàn gắn sống chung với nhau được. Do đó bà Tr yêu c u được ly hôn với ông T. Hiện tại sức khoẻ bà Tr bình thường.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Tr và ông T có 03 con chung

tên Nguyễn Khắc T, sinh ngày 02/6/1999, Nguyễn Thị Dung T, sinh ngày 19/8/2004, Nguyễn Khắc Trí T, sinh ngày 18/3/2013. Trước đây bà Tr yêu c u trực tiếp nuôi dư ng, chăm sóc giáo dục con chung tên Nguyễn Khắc Trí T và không yêu c u ông T cấp dư ng nuôi con. Do hiện nay các con đang ở với ông T nên bà Tr đồng ý giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dư ng, bà Tr không cấp dư ng nuôi con.

- Về tài sản chung:

Trong quá trình chung sống, vợ chồng có tài sản chung:

Căn nhà và đất tại số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H

theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD530400, số vào s cấp giấy chứng nh n CS00552 do Sở Tài

nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 01/9/2016. Bà Tr yêu c u chia ½ giá

trị tài sản nhà, đất này.

+ Đối với yêu c u tranh chấp tiền chuyển nhượng tài sản nhà, đất tại phường

BVA, huyện LK, t nh ĐN, nay bà Tr rút lại yêu c u này và không yêu c u Toà án

giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Theo bản tự khai, biên bản hòa giải, biên bản về việc không tiến hành hòa giải

được, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, bị

đơn ông Nguy n Kh c T trình bày:

- Về thời gian chung sống và đăng ký kết hôn, ông T đồng ý với lời trình bày

của bà Tr. Tại thời điểm hôm nay, ông T và các con mong muốn đưa bà Tr về để

chăm sóc chữa bệnh cho bà Tr. Ông T và các con rất c n đến sự có mặt của bà Tr

trong gia đình để xây dựng t ấm. Ông T không đồng ý với kết quả khám sức khoẻ

của bà Tr. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thu n gì phát sinh, ông

T còn thương vợ con vì bà Tr bị bệnh tr m cảm nặng loạn th n nên bà Tr yêu c u

ly hôn, ông T không đồng ý ly hôn với bà Tr.

- Về con chung: Ông T yêu c u trực tiếp nuôi dư ng và chăm sóc giáo dục

con chung tên Nguyễn Khắc Trí T, sinh ngày 18/3/2013 và không yêu c u bà Tr cấp

dư ng nuôi con. Con chung tên Nguyễn Khắc T, sinh ngày 02/6/1999 và Nguyễn

Thị Dung T, sinh ngày 19/8/2004 đ trưởng thành nên không yêu c u Tòa án giải

quyết.

- Về tài sản chung: Căn nhà và đất tại số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện

HM, Thành phố H theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và

tài sản khác gắn liền với đất số CD530400, số vào s cấp giấy chứng nh n CS00552

do Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 01/9/2016, bà Tr yêu c u

chia ½ giá trị tài sản nhà đất này, ông T không đồng ý vì ông T còn thương gia đình,

thương vợ con, mong muốn đoàn tụ gia đình để lo cho các con. Nếu bà Tr về sống

tại nhà này ông T đồng ý giao nhà đất cho bà Tr quản lý sử dụng và nuôi dạy các

con, ông T dọn ra ngoài sống. Hơn nữa căn nhà này là cửa hàng thuốc tây NT, là

nguồn tài chính duy nhất nuôi sống gia đình t đó đến nay nên ông T không đồng

chia theo yêu c u của bà Tr.

- Về nợ chung: Vợ chồng đ thế chấp nhà đất số B69/18B ấp MH2, x TĐ,

huyện HM, Thành phố H để vay tiền Ngân hàng A nhưng ông T không cung cấp

được hồ sơ thế chấp ngân hàng, mục đích vay lo kinh tế gia đình. Hiện nay vợ

chồng không còn nợ Ngân hàng A khoản tiền nào.

+ Ông T và bà Tr có các khoản nợ chung như sau: Nợ bà Nguyễn Thị Bích N

số tiền 500.000.000đ Năm trăm triệu đồng) và 12 Mười hai cây vàng; nợ bà

Nguyễn Thị Thanh T số tiền 300.000.000đ Ba trăm triệu đồng) và 04 Bốn cây

vàng; nợ cha mẹ của ông T là ông Nguyễn T, bà Nguyễn Thị L số vàng 04 Bốn

cây vàng. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, ông T đề nghị bà Tr cùng với ông T

chịu trách nhiệm trả các khoản nợ trên, nếu trở về đoàn tụ, không ly hôn thì ông T

sẽ tự chịu trách nhiệm trả các khoản nợ này. Mục đích vay nợ là để xây dựng nhà,

tiêu xài trong gia đình khi 02 vợ chồng còn sống chung.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông N

trình bày:

Năm 2016, Ngân hàng TMCP A có ký hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn

Khắc T, bà Tr n Thị Nữ Minh Tr, số tiền vay là 1.200.000.000đ Một tỷ hai trăm triệu đồng). Để đảm bảo việc vay tiền, ông T, bà Tr và Ngân hàng ký kết hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H; nhà, đất do ông T, bà Tr đứng tên chủ sở hữu. Ngày 29/6/2018 ông T, bà Tr đ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP A. Tuy nhiên ông T, bà Tr không đến Ngân hàng để nh n lại bản chính giấy tờ nhà, đất đ thế chấp; Ngân hàng v n đang giữ các giấy tờ nhà, đất của ông, bà. Trong vụ kiện này, Ngân hàng không có ý kiến yêu c u gì; đề nghị ông T, bà Tr đến Ngân hàng nh n lại bản chính giấy tờ nhà, đất số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 1173/2022/HNGĐ-ST ngày 25

tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện HM, Thành phố H đã nhận định:

ét về yêu c u xin ly hôn của nguyên đơn: Căn cứ vào lời khai, các chứng

cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bà Tr và ông T sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thu n. Nguyên nhân là do vợ chồng sống chung một nhà nhưng không cùng quan điểm chung. Ông T thường xuyên bạo hành bà Tr về tinh th n và thể chất. T tháng 4/2019 bà Tr với ông T bắt đ u sống ly thân. T khi sống ly thân, vợ chồng bà Tr và ông T không có qua lại, quan tâm chăm sóc l n nhau, mạnh ai người nấy sống. Nay bà Tr nh n thấy tình cảm vợ chồng đ phai nhạt, không thể hàn gắn sống chung với nhau được nên bà Tr yêu c u được ly hôn với ông T. Ngược lại, ông T th a nh n vợ chồng sống ly thân t năm 2019 nhưng ông T cho rằng v n còn yêu thương bà Tr vì bà Tr bị bệnh tr m cảm nặng loạn th n nên mong muốn gia đình được đoàn tụ nên ông T không đồng ý ly hôn với bà Tr. Tại phiếu khám sức khỏe Bệnh viện tâm th n trung ương 2 ngày 06/02/2020 kết lu n: Hiện tại không có rối loạn tâm th n. Hội đồng xét xử xét thấy vợ chồng bà Tr và ông T đ không còn sống chung t tháng 4/2019 cho đến nay. Trong thời gian dài mâu thu n vợ chồng v n không được giải quyết, cuộc sống gia đình v n không hạnh phúc. Tòa án đ tiến hành hòa giải, động viên để các bên đoàn tụ trở về chung sống với nhau nhưng không thành, bà Tr v n giữ yêu c u ly hôn với ông T. Mặc dù ông T không đồng ý ly hôn vì cho rằng còn yêu thương bà Tr nhưng kể t khi bà Tr có đơn xin ly hôn với ông T tại Tòa án cho đến nay, ông T v n không có hành động cụ thể hay giải pháp nào để vợ chồng đoàn tụ, mỗi người v n giữ quan điểm riêng của mình. T khi sống ly thân, vợ chồng bà Tr và ông T không có qua lại, quan tâm chăm sóc l n nhau, mạnh ai người nấy sống. Tại phiên tòa, các bên v n tiếp tục tranh c i, không tìm được tiếng nói chung và bà Tr v n giữ nguyên yêu c u ly hôn với ông T. T nh n định trên, Hội đồng xét xử kết lu n đời sống chung vợ chồng của bà Tr và ông T đang ở trong tình trạng tr m trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Do v y Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Lu t Hôn nhân và gia đình để chấp nh n đơn xin ly hôn của bà Tr là phù hợp với các quy định của pháp lu t và xử cho bà Tr được ly hôn với ông T.

Về con chung. ét về yêu c u nuôi con:

Trong quá trình chung sống, bà Tr và ông T có 03 người con chung tên

Nguyễn Khắc T sinh ngày 02/6/1999; Nguyễn Thị Dung T, sinh ngày 19/8/2004 và

Nguyễn Khắc Trí T, sinh ngày 18/3/2013. hiện nay Nguyễn Khắc T và Nguyễn

Thị Dung T đ trưởng thành . Ông T yêu c u trực tiếp nuôi dư ng và chăm sóc giáo

dục con chung và không yêu c u bà Tr cấp dư ng nuôi con. Tại phiên tòa, bà Tr

cũng đồng ý giao con chung cho ông T chăm sóc nuôi dư ng, do đó Hội đồng xét

xử xét thấy sự tự nguyện của bà Tr là phù hợp với quy định pháp lu t nên Hội đồng

xét xử xét ghi nh n và giao cháu T cho ông T trực tiếp nuôi dư ng, đồng thời cũng

phù hợp với nguyện vọng của ông T và phù hợp với các quy định tại Khoản 2 Điều

81 Lu t Hôn nhân và gia đình. Bà Tr có quyền yêu c u thay đ i trực tiếp quyền

nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc con chung, không ai có quyền

ngăn cản cấm đoán.

ét yêu c u chia tài sản chung:

Về tài sản chung: Vào ngày 10/10/2019 bà Tr có đơn khởi kiện b sung yêu

c u ông T chia số tiền 1.250.000.000đ Một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng) t

việc bán căn nhà chung tại Thị x LK, t nh ĐN, tuy nhiên ngày 20/5/2020 bà Tr đ

tự nguyện nộp đơn xin rút yêu c u chia tài sản chung nói trên đối với ông T nên Tòa

án không thông báo nộp tiền tạm ứng án phí đối với bà Tr. Vì v y Hội đồng xét xử

không xem xét đối với ph n yêu c u chia tài sản chung này.

Trong thời gian chung sống ông T và bà Tr có tạo l p được khối tài sản chung

là một căn nhà tọa lạc tại số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H.

Hiện nhà này đ được Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp giấy chứng

nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang

tên ông Nguyễn Khắc T và bà Tr n Thị Nữ Minh Tr, số vào s cấp giấy chứng nh n

CS00552 ngày 01/9/2016. Như v y, đối với khối tài sản chung này ông T và bà Tr

đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài

sản chung.

ét yêu c u của nguyên đơn: Bà Tr yêu c u Tòa án giải quyết vấn đề tranh

chấp tài sản chung của vợ chồng theo quy định pháp lu t. Hội đồng xét xử xét thấy,

trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Tr, ông T v n

không thỏa thu n được với nhau về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng. Mặt

khác theo quy định tại Điều 59 Lu t Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tài sản

chung của vợ chồng được chia đôi. Như v y việc bà Tr yêu c u Tòa án giải quyết

tài sản khi ly hôn theo quy định pháp lu t là có cơ sở chấp nh n.

ét yêu c u của bị đơn: Ông T không đồng ý chia tài sản chung của vợ chồng

đang tranh chấp theo quy định pháp lu t, vì ông T cho rằng còn thương gia đình,

thương vợ con, mong muốn đoàn tụ gia đình để lo cho các con. Nếu bà Tr về sống

tại nhà này ông T đồng ý giao nhà, đất cho bà Tr quản lý sử dụng và nuôi dạy các

con, ông T dọn ra ngoài sống. Hơn nữa căn nhà này là cửa hàng thuốc tây NT, là

nguồn tài chính duy nhất nuôi sống gia đình t đó đến nay nên không đồng ý chia

theo yêu c u của bà Tr. Hội đồng xét xử xét thấy: Tài sản chung của vợ chồng được

tạo l p trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung ch của vợ và chồng. Trường hợp các

bên thỏa thu n được với nhau về việc giải quyết vấn đề tài sản chung này và không

trái với quy định của pháp lu t thì Tòa án sẽ ghi nh n. Trường hợp các bên không thể thỏa thu n được với nhau thì Tòa án sẽ căn cứ theo quy định của pháp lu t để giải quyết. Theo quy định tại Điều 59 Lu t Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trong vụ án này, ph n tài sản chung mà bà Tr và ông T mỗi người sẽ được nh n là ½ khối tài sản chung bao gồm cả nhà đất đang tranh chấp. Việc ông T nói căn nhà này là cửa hàng thuốc tây NT, là nguồn tài chính duy nhất nuôi sống gia đình t đó đến nay nên không đồng chia theo yêu c u của bà Tr là không có cơ sở. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nh n yêu c u của ông T.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, phía nguyên đơn đ yêu c u đo vẽ để xác định

chính xác diện tích nhà đất tranh chấp. Theo bản đồ xác định ranh số hợp đồng 105822/ TTĐĐBĐ do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H l p ngày 13/3/2020 thì nhà đất đang tranh chấp tọa lạc tại địa ch số B69/18B ấp MH2, xã XTĐ, huyện HM, Thành phố H có diện tích 77.6m2, thửa đất số 636, tờ bản đồ số 32, đ được cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD530400, số vào s cấp giấy chứng nh n CS00552 do Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H cấp ngày 01/9/2016. Căn cứ theo khoản 2 Điều 59 Lu t Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì ph n tài sản mà bà Tr và ông T mỗi người được nh n là ½ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên ông Nguyễn Khắc T và bà Tr n Thị Nữ Minh Tr.

Căn cứ theo Chứng thư thẩm định giá tài sản ngày 08/9/2020 của Công ty c

ph n thẩm định giá và DVTS TC (VATC) làm cơ sở giải quyết vụ án thì t ng giá trị nhà đất đang tranh chấp là 6.040.000.000đ Sáu tỷ không trăm bốn mươi triệu đồng).

Giá trị tài sản bà Tr và ông T, mỗi người được nh n gồm ½ t ng giá trị quyền

sử dụng đất và căn nhà tranh chấp:

6.040.000.000đồng : 2 = 3.020.000.000đ Ba tỷ không trăm hai mươi triệu

đồng).

Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay ông T đang trực tiếp nuôi con và quản lý

sử dụng căn nhà nêu trên nên c n có chỗ ở n định. Do đó căn cứ theo khoản 3 Điều 59 Lu t Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao cho ông T nh n toàn bộ căn nhà đang tranh chấp là phù hợp. Vì ông T được nh n ph n tài sản căn nhà nói trên nên ông T có trách nhiệm phải thanh toán lại cho bà Tr số tiền 3.020.000.000đ Ba tỷ không trăm hai mươi triệu đồng).

Về chi phí đo vẽ bản đồ hiện trạng và chứng thư thẩm định giá tài sản đang

tranh chấp phía nguyên đơn tự nguyện chịu và không có yêu c u gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

ét về nợ chung theo yêu c u của nguyên đơn: Trong vụ án này bà Tr khai

không thiếu nợ ai hết và không yêu c u giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

ét về nợ chung theo yêu c u của bị đơn: Tại biên bản hòa giải ngày 18/5/2021

ông T trình bày có nợ bà Nguyễn Thị Bích N số tiền 500.000.000đ Năm trăm triệu đồng) và 12 Mười hai cây vàng; nợ bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền 300.000.000đ

Ba trăm triệu đồng) và 04 Bốn cây vàng; nợ cha mẹ của ông T là ông Nguyễn T,

bà Nguyễn Thị L số vàng 04 Bốn cây vàng nhưng ông T không cung cấp được các

chứng cứ liên quan đến việc vay nợ này, đồng thời Tòa án đ tống đạt hợp lệ cho

ông T đến làm việc vào các ngày 20/01/2022 và ngày 23/6/2022 để kiểm tra việc

giao nộp, tiếp c n, công khai chứng cứ và cung cấp địa ch của những người đang

thiếu nợ cho Tòa án biết nhưng ông T không hợp tác đến Tòa án làm việc. Ngày

17/8/2022, ông T đến Tòa án cung cấp chứng cứ và đơn yêu c u phản tố nhưng

trong đơn lại không ký tên và ghi họ tên, do đó Tòa án không thể xem xét. Vì v y

nếu sau này bà Nguyễn Thị Bích N, bà Nguyễn Thị Thanh T, ông Nguyễn T, bà

Nguyễn Thị L có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác. Vì

những phân tích nêu trên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về ph n nợ

chung trong vụ án này.

Từ nh ng nhận định nêu trên, cấp sơ thẩm đã quyết định:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nh n yêu c u của bà Tr n Thị Nữ Minh Tr được ly

hôn với ông Nguyễn Khắc T.

Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Khắc T trực tiếp nuôi dư ng, chăm sóc

giáo dục con chung tên Nguyễn Khắc Trí T, sinh ngày 18/3/2013. Ghi nh n sự tự

nguyện của ông Nguyễn Khắc T không yêu c u bà Tr n Thị Nữ Minh Tr cấp dư ng

nuôi con.

Sau khi ly hôn, bà Tr được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung,

không ai được cản trở bà Tr thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, khi có lý do

chính đáng, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu c u tòa án thay đ i người trực

tiếp nuôi con cũng như việc cấp dư ng nuôi con.

Về tài sản chung:

ác định căn nhà số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H đ

được Sở Tài nguyên môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng

đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD530400, số vào s

cấp giấy chứng nh n CS00552 ngày 01/9/2016 là tài sản chung của ông Nguyễn

Khắc T và bà Tr n Thị Nữ Minh Tr.

Giao cho ông Nguyễn Khắc T được quyền sở hữu căn nhà số B69/18B ấp

MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H đ được Sở Tài nguyên môi trường Thành

phố H cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác

gắn liền với đất số CD530400, số vào s cấp giấy chứng nh n CS00552 ngày

01/9/2016.

Ông Nguyễn Khắc T có nghĩa vụ phải thanh toán lại cho bà Tr n Thị Nữ Minh

Tr ½ giá trị căn nhà số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H với số

tiền 3.020.000.000đ Ba tỷ không trăm hai mươi triệu đồng . Thi hành một l n ngay

sau khi án có hiệu lực pháp lu t.

Việc giao nh n tiền được thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm

quyền.

Ông Nguyễn Khắc T có quyền liên hệ với các cơ quan chức năng có thẩm

quyền để đăng ký xác l p lại quyền sở hữu đối với căn nhà số B69/18B ấp MH2, x XTĐ, huyện HM, Thành phố H theo thủ tục chung.

Kể t ngày người được thi hành án có đơn yêu c u thi hành án, nếu người phải

thi hành án chưa thi hành đối với khoản tiền nêu trên, hàng tháng còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ lu t Dân sự.

Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu c u

thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp lu t.

Ngày 05/9/2022, ông Nguyễn Khắc T kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, yêu

c u cấp phúc thẩm xem xét lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Ngày 30/12/2022, ông Nguyễn Khắc T thay đ i, b sung kháng cáo, yêu c u

cấp phúc thẩm xem xét lại ph n tài sản chung và nợ chung.

Ngày 09/01/2023, bà Nguyễn Thị Thanh T và bà Nguyễn Thị Thu H là người

đại diện ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thanh T có bản khai trình bày yêu c u Tòa án giải quyết số tiền vay mượn 568.800.000đ Năm trăm sáu mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng) của ông Nguyễn Khắc T và bà Tr n Thị Nữ Minh Tr.

Ngày 01/02/2023, bà Nguyễn Thị Thu H là người đại diện ủy quyền của bà

Nguyễn Thị Thanh T có bản khai trình bày xin rút yêu c u giải quyết số tiền vay mượn 568.800.000đ Năm trăm sáu mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng) của ông Nguyễn Khắc T và bà Tr n Thị Nữ Minh Tr.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Khắc T và ông Đỗ uân T là người đại diện theo ủy quyền của

bà Tr n Thị Nữ Minh Tr về ph n tài sản chung, thỏa thu n giải quyết tài sản chung và nợ chung như sau:

- Về tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Khắc T và bà Tr n Thị Nữ

Minh Tr:

ác định quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại số B69/18B ấp MH2, x

XTĐ, huyện HM, Thành phố H đ được Sở Tài nguyên môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD530400, số vào s cấp giấy chứng nh n CS00552 ngày 01/9/2016 là tài sản chung của ông Nguyễn Khắc T và bà Tr n Thị Nữ Minh Tr.

- Phân chia tài sản chung:

Giao cho ông Nguyễn Khắc T được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

tại số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H đ được Sở Tài nguyên môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD530400, số vào s cấp giấy chứng nh n CS00552 ngày 01/9/2016.

Ông Nguyễn Khắc T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tr n Thị Nữ Minh Tr

giá trị tài sản chung quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại số B69/18B ấp

MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H với số tiền 2.000.000.000đ Hai tỷ đồng).

Thi hành một l n ngay sau khi án có hiệu lực pháp lu t, bà Tr n Thị Nữ Minh Tr

đồng ý nh n tiền.

Ngay khi ông Nguyễn Khắc T thanh toán cho bà Tr n Thị Nữ Minh Tr số

tiền 2.000.000.000đ Hai tỷ đồng xong, ông Nguyễn Khắc T được quyền liên hệ

với các cơ quan chức năng có thẩm quyền để đăng ký xác l p quyền sở hữu nhà và

quyền sử dụng đất tại số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H theo

thủ tục chung.

Ông Nguyễn Khắc T tự nguyện trả các khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân nếu

có của các ông, bà Nguyễn Thị Bích N, Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn T, Nguyễn

Thị L và ông Lương Hữu T.

- Về nợ chung: Không yêu c u Tòa án giải quyết.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Khắc T trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử công nh n sự thỏa thu n của các đương sự, sửa Bản

án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 1173/2022/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 8 năm 2022

của Tòa án nhân dân huyện HM, Thành phố H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tr n Thị Nữ Minh Tr trình

bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử công nh n sự thỏa thu n của các đương sự, sửa Bản

án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 1173/2022/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 8 năm 2022

của Tòa án nhân dân huyện HM, Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân Thành phố H tham gia phiên tòa phát

biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các

đương sự thực hiện đúng theo quy định của Bộ lu t Tố tụng dân sự.

Về kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T:

Ngày 25/8/2022, Tòa án nhân dân huyện HM, Thành phố H xét xử sơ thẩm

vụ án; ngày 05/9/2022, ông Nguyễn Khắc T kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, yêu

c u cấp phúc thẩm xem xét lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Ngày 30/12/2022, ông

Nguyễn Khắc T thay đ i, b sung kháng cáo, yêu c u cấp phúc thẩm xem xét lại

ph n tài sản chung và nợ chung. Căn cứ Điều 273, Điều 284 Bộ lu t Tố tụng dân sự

năm 2015, kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T còn trong thời hạn lu t định và thay

đ i, b sung kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T trong phạm vi kháng cáo ban đ u

nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Khắc T và ông Đỗ Xuân T là người

đại diện theo ủy quyền của bà Tr n Thị Nữ Minh Tr về ph n tài sản chung đ thỏa thu n giải quyết tài sản chung và nợ chung. Xét thấy, sự thỏa thu n của các đương sự không vi phạm điều cấm của lu t và không trái đạo đức xã hội, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, Khoản 2 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nh n kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T, sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 1173/2022/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện HM, Thành phố H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra

tại phiên tòa, căn cứ kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T làm trong hạn lu t định, việc thay đ i

b sung kháng cáo ngày 30/12/2022 trong phạm vi kháng cáo ban đ u nên cấp phúc thẩm chấp nh n xem xét theo trình tự phúc thẩm.

. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T và các tài liệu, chứng cứ đ thu

th p có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Khắc T và ông Đỗ Xuân T là người đại diện theo ủy quyền của bà Tr n Thị Nữ Minh Tr về ph n tài sản chung đ thỏa thu n giải quyết tài sản chung và nợ chung như sau:

- Về tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Khắc T và bà Tr n Thị Nữ

Minh Tr:

ác định quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại số B69/18B ấp MH2, x

XTĐ, huyện HM, Thành phố H đ được Sở tài nguyên môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD530400, số vào s cấp giấy chứng nh n CS00552 ngày 01/9/2016 là tài sản chung của ông Nguyễn Khắc T và bà Tr n Thị Nữ Minh Tr.

- Phân chia tài sản chung:

Giao cho ông Nguyễn Khắc T được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

tại số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H đ được Sở tài nguyên môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD530400, số vào s cấp giấy chứng nh n CS00552 ngày 01/9/2016.

Ông Nguyễn Khắc T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tr n Thị Nữ Minh Tr giá

trị tài sản chung quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H với số tiền 2.000.000.000đ Hai tỷ đồng . Thi hành một l n ngay sau khi án có hiệu lực pháp lu t, bà Tr n Thị Nữ Minh Tr đồng ý nh n tiền.

Ngay khi ông Nguyễn Khắc T thanh toán cho bà Tr n Thị Nữ Minh Tr số

tiền 2.000.000.000đ Hai tỷ đồng xong, ông Nguyễn Khắc T được quyền liên hệ với các cơ quan chức năng có thẩm quyền để đăng ký xác l p quyền sở hữu nhà và

quyền sử dụng đất tại số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H

theo thủ tục chung.

Ông Nguyễn Khắc T tự nguyện trả các khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân nếu

có của các ông, bà Nguyễn Thị Bích N, Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn T, Nguyễn

Thị L và ông Lương Hữu T.

- Về nợ chung: Không yêu c u Tòa án giải quyết.

ét thấy việc thỏa thu n nêu trên của ông Nguyễn Khắc T và ông Đỗ uân T

là người đại diện theo ủy quyền của bà Tr n Thị Nữ Minh Tr là hoàn toàn tự

nguyện, không vi phạm điều cấm của lu t và không trái đạo đức x hội, phù hợp

Điều 5, Điều 300 Bộ lu t Tố tụng dân sự năm 2015 nên chấp nh n.

T những nh n định nêu trên, căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng dân

sự năm 2015, chấp nh n kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T, sửa Bản án Hôn nhân

gia đình sơ thẩm số 1173/2022/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Tòa án

nhân dân huyện HM, Thành phố H.

. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Tr phải chịu theo quy định của

pháp lu t.

. Về án phí dân sự sơ thẩm (Về tài sản chung): Ông T, bà Tr phải chịu trên

giá trị tài sản được chia theo quy định của pháp lu t:

- Bà Tr được chia giá trị là 2.000.000.000đ Hai tỷ đồng , phải chịu án phí

72.000.000đ Bảy mươi hai triệu đồng .

- Ông T được chia giá trị là 4.040.000.000đ Bốn tỷ không trăm bốn mươi

triệu đồng , phải chịu án phí 112.040.000đ Một trăm mười hai triệu không trăm

bốn mươi ngàn đồng .

. Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Do yêu c u kháng cáo được

chấp nh n nên ông T không phải chịu theo quy định của pháp lu t.

. ét trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T tại

phiên tòa: Như nh n định nêu trên, xét thấy có cơ sở chấp nh n.

. Xét trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tr tại

phiên tòa: Như nh n định nêu trên, xét thấy có cơ sở chấp nh n.

. Xét ý kiến phát biểu đề nghị về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tại phiên tòa: Như nh n định nêu trên, xét

thấy có cơ sở chấp nh n.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 5, Điều 104, Điều 147, Khoản 2 Điều 148, Điều 293, Điều

300, Khoản 2 Điều 308, Điều 313 Bộ lu t Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

I. Chấp nh n yêu c u kháng cáo của ông Nguyễn Khắc T.

Sửa một ph n Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 1173/2022/HNGĐ-ST

ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện HM, Thành phố H đối với yêu c u tranh chấp tài sản chung, nợ chung giữa bà Tr n Thị Nữ Minh Tr và ông Nguyễn Khắc T, cụ thể như sau:

Chấp nh n yêu c u khởi kiện của bà Tr n Thị Nữ Minh Tr đối với ông

Nguyễn Khắc T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tr n Thị Nữ Minh Tr ly hôn ông Nguyễn Khắc

T.

Giấy chứng nh n kết hôn số 41, quyển số 02 ngày 01/12/1998 do Ủy ban

nhân dân xã BV, huyện LK, t nh ĐN cấp cho bà Tr n Thị Nữ Minh Tr và ông Nguyễn Khắc T không còn giá trị pháp lý kể t ngày Bản án này có hiệu lực pháp lu t.

2. Về con chung: 03 con chung tên Nguyễn Khắc T, sinh ngày 02/6/1999,

Nguyễn Thị Dung T, sinh ngày 19/8/2004 và Nguyễn Khắc Trí T, sinh ngày 18/3/2013.

Giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Khắc Trí T cho ông Nguyễn

Khắc T trực tiếp nuôi dư ng, chăm sóc giáo dục. Ghi nh n sự tự nguyện của ông Nguyễn Khắc T không yêu c u bà Tr n Thị Nữ Minh Tr cấp dư ng nuôi con. Việc giao nh n con chung tên Nguyễn Khắc Trí T do hai bên đương sự tự thi hành hoặc yêu c u cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành.

Sau khi ly hôn, bà Tr n Thị Nữ Minh Tr được quyền thăm nom, chăm sóc,

giáo dục con chung, không ai được cản trở bà Tr n Thị Nữ Minh Tr thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu c u tòa án thay đ i người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dư ng nuôi con.

3. Về tài sản chung:

- ác định quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại số B69/18B ấp MH2,

x TĐ, huyện HM, Thành phố H đ được Sở tài nguyên môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD530400, số vào s cấp giấy chứng nh n CS00552 ngày 01/9/2016 là tài sản chung của ông Nguyễn Khắc T và bà Tr n Thị Nữ Minh Tr.

- Phân chia tài sản chung:

+ Giao cho ông Nguyễn Khắc T được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng

đất tại số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H đ được Sở tài nguyên môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở

hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD530400, số vào s cấp giấy chứng

nh n CS00552 ngày 01/9/2016.

+ Ông Nguyễn Khắc T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tr n Thị Nữ Minh Tr

giá trị tài sản chung quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại số B69/18B ấp

MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H với số tiền 2.000.000.000đ Hai tỷ đồng .

Thi hành một l n ngay sau khi án có hiệu lực pháp lu t.

Kể t ngày bà Tr n Thị Nữ Minh Tr có đơn yêu c u thi hành án, nếu ông

Nguyễn Khắc T chưa hoặc không thi hành thì hàng tháng phải trả l i đối với số tiền

ch m thi hành theo mức l i suất quy định tại Điều 468 Bộ lu t Dân sự.

+ Ngay khi ông Nguyễn Khắc T thanh toán cho bà Tr n Thị Nữ Minh Tr số

tiền 2.000.000.000đ Hai tỷ đồng xong, ông Nguyễn Khắc T được quyền liên hệ

với các cơ quan chức năng có thẩm quyền để đăng ký xác l p quyền sở hữu nhà và

quyền sử dụng đất tại số B69/18B ấp MH2, x TĐ, huyện HM, Thành phố H theo

thủ tục chung.

+ Ông Nguyễn Khắc T tự nguyện trả các khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân

nếu có của các ông, bà Nguyễn Thị Bích N, Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn T,

Nguyễn Thị L và ông Lương Hữu T.

4. Về nợ chung: Không yêu c u Tòa án giải quyết.

5. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ Ba trăm ngàn đồng bà

Tr n Thị Nữ Minh Tr phải chịu nhưng được cấn tr vào số tiền tạm ứng án phí hôn

nhân gia đình sơ thẩm đ nộp 300.000đ Ba trăm ngàn đồng theo biên lai số

AA/2019/0004447 ngày 16/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HM,

Thành phố H.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

6. Án phí dân sự sơ thẩm Về tài sản chung :

- Bà Tr n Thị Nữ Minh Tr phải chịu 72.000.000đ Bảy mươi hai triệu đồng

nhưng được cấn tr vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đ nộp 59.125.000đ Năm

mươi chín triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng theo biên lai số

AA/2019/0004448 ngày 16/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HM,

Thành phố H. Bà Tr n Thị Nữ Minh Tr phải nộp thêm số tiền án phí dân sự sơ thẩm

là 12.875.000đ Mười hai triệu tám trăm bảy mươi lăm ngàn đồng .

- Ông Nguyễn Khắc T phải chịu 112.040.000đ Một trăm mười hai triệu

không trăm bốn mươi ngàn đồng .

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

II. Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Ông Nguyễn Khắc T không phải

chịu.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Khắc T số tiền 300.000đ Ba trăm ngàn đồng tiền

tạm ứng án phí đ nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0040067 ngày

07/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HM, Thành phố H.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Lu t Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thu n thi hành án; quyền yêu c u thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Lu t Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t ngay sau khi tuyên án.

Cỡ chữ