- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "bà A kiện bà D tranh chấp thừa kế"
- Tòa quyết gì? Căn cứ các Điều: 653, 658, 674, 675, 676, 685 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2005;
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2023/DS-PT Ngày 04-4-2023 V/v Tranh chấp thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Ngọc Thạch
Ông Ngô Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diê ̣n Viê ̣n Kiểm sá t nhân dân tỉnh Binh Dương̀
tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại tru ̣ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 448/2022/TLPT-DS ngày 15/12/2022 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 của Toà án nhân dân huyê ̣n Bắc TU, tỉnh Bình Dương bi ̣ kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2023/QĐ-PT ngày 09 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu A1, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ 4, ấp Xóm Đèn, xã TM, huyện BU, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho bà Đặng Phước HM, sinh năm 1974; địa chỉ: 62 Nguyễn Huy Tự, phường DK, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 26/10/2022), có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1958; địa chỉ: tổ 4, ấp Xóm Đèn, xã TM, huyện BU, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho bà Châu Nguyễn CT, sinh năm 1994; địa chỉ: tổ 4, ấp Xóm Đèn, xã TM, huyện BU, tỉnh Bình Dương (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/01/2022), bà Dung có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1955; địa chỉ: hẻm 244, tổ 9, khu phố 1, phường TV, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai, có mặt.
2. Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1957; địa chỉ: ấp 1, xã TL, huyện DP, tỉnh Bình Phước, có yêu cầu vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1962; địa chỉ: tổ 4, ấp Xóm Đèn, xã TM, huyện BU, tỉnh Bình Dương, có mặt.
4. Bà Mai Thị A2, sinh năm 1944; địa chỉ: khu phố 5, phường UH, thị xã TU, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu vắng mặt.
5. Bà Châu Nguyễn CT, sinh năm 1994, có yêu cầu vắng mặt.
6. Ông Nguyễn Anh T2, sinh năm 1970, có yêu cầu vắng mặt.
7. Ông Nguyễn Hải V, sinh năm 2001, có mặt.
8. Ông Nguyễn Anh T3, sinh năm 2003, có yêu cầu vắng mặt.
Cùng địa chỉ: tổ 4, ấp Xóm Đèn, xã TM, huyện BU, tỉnh Bình Dương.
9. Ủy ban nhân dân huyện BU, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
10. Ủy ban nhân dân xã TM, huyện BU, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ngườ i khá ng cá o: Bà Nguyễn Thị Thu A1 là nguyên đơn kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ Á N:
* Theo Đơn khởi kiện ngày 13/11/2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu A1 trình bày: Bà A1 khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản của mẹ là cụ Nguyễn Thị Liền để lại theo di chúc đối với phần đất diện tích 1.168m2 (trong tổng diện tích đất đo thực tế 2.036,2m2) thuộc thửa đất số 5, 6, tờ bản đồ số 45 tại xã TM, huyện BU, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số Q 327635, số vào sổ 00841 QSDĐ/TU ngày 30/10/2000 của Ủy ban nhân dân (UBND) huyện TU cấp cho cụ Liền.
Về quan hệ nhân thân: Cha mẹ của bà A1 là cụ Nguyễn Quang Trạng (sinh năm 1921- chết năm 1977), cụ Nguyễn Thị Liền (sinh năm 1921 – chết năm 2009). 02 cụ có 6 người con gồm: Bà Nguyễn Thị Ớ, sinh năm 1954, chết năm 2013, không có chồng con; bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1955; ông Nguyễn Văn Dương, sinh năm 1956; ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1962; bà Nguyễn Thị Thu A1, sinh năm 1969; bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1958. Ngoài ra, cụ Liền còn có 01 người con riêng với người chồng trước là bà Mai Thị A2, sinh năm 1944.
Tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông bà nội bà A1 khai phá và mua của người khác (không rõ mua của ai và mua diện tích bao nhiêu). Ông bà nội để lại cho ba mẹ quản lý, sử dụng. Tổng diện tích đất ba mẹ để lại khoảng 2 mẫu nhưng chỉ có phần đất diện tích 1.750m2 thửa số 5, 6 được cấp GCNQSDĐ cho cụ Liền, các phần đất còn lại, chưa được cấp GCNQSDĐ, bà A1 và ông Tr được ba mẹ cho kê khai, đăng ký và được cấp GCNQSDĐ cho bà A1 và ông Tr. Phần đất bà A1 được cấp GCNQSDĐ gần 1 mẫu trong đó đất cụ Liền để lại diện tích khoảng 7.000m2, phần còn lại bà A1 khai phá thêm; Phần đất ông Tr đứng tên cũng là đất của ba mẹ để lại. Bà A1 và ông Tr ở chung và gần với mẹ nên được mẹ cho đất, bà D ở gần nhưng do đi dạy nên không có thời gian canh tác. Bà Ớ ở ruộng có nhiều đất nên bà không quan tâm. Ông D1 và bà B1 ở xa không về nên cụ Liền không cho đất.
Căn cứ Bản Di chúc ngày 31/3/2006 do cụ Liền để lại, bà A1 yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau: Công nhận Bản di chúc lập ngày 15/3/2006 của cụ Nguyễn Thị Liền, số chứng thực 06, quyển số 01 TP/CC-SCT/DCTC của Chủ tịch UBND xã TM là hợp pháp. Bà A1 được quyền quản lý, sử dụng, kê khai đăng ký và được cấp GCNQSDĐ đối với phần đất diện tích 1.168m2 theo di chúc.
Những người đang quản lý, sử dụng phần đất bà A1 tranh chấp được thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 89-2021 ngày 12/7/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện BU như sau: khu I: gia đình bà A1 đang quản lý, sử dụng gồm: bà A1; chồng bà A1 là ông Nguyễn Anh T2 và các con gồm: Nguyễn Hải V; Nguyễn Anh T3 và Nguyễn Thị Hải Yến, sinh ngày 25/12/2008. Ngoài ra, trên đất còn có một số người ở trọ, những người ở trọ này không có hợp đồng thuê, ở trọ không ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú. Người ở trọ cũng không đầu tư tài sản trên đất. Khu II: gia đình bà D và con là Châu Nguyễn CT quản lý, sử dụng.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị D và người đại diện bà Châu Nguyễn CT trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà A1 về nguồn gốc đất, bà D không tranh chấp đối với phần đất diện tích 1.168m2. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trường hợp bà được phân chia tài sản thì đề nghị Tòa án giao phần đất bà đang quản lý, sử dụng tiếp tục quản lý, sử dụng. Bà D không có yêu cầu phản tố.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc đất. Bà B1 cho rằng bản di chúc được lập lúc cụ Liền không minh mẫn nên không đồng ý với nội dung Di chúc, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà A1. Tài sản tranh chấp là của cụ Liền và cụ Trạng để lại. Đồng thời, ngày 24/5/2021 và ngày 24/5/2022, bà B1 có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án phân chia di sản của cụ Liền theo quy định của pháp luật như sau:
- Tuyên vô hiệu Bản di chúc lập ngày 15/3/2006 của cụ Nguyễn Thị Liền, số chứng thực 06, quyển số 01 của Chủ tịch UBND xã TM;
- Phân chia di sản cụ Liền để lại là quyền sử du ̣ng đất diện tích 2.036,2m2 thuộc thửa đất số 5, 6, tờ bản đồ số 45 tại xã TM, huyện BU theo GCNQSDĐ số Q 327635, số vào sổ 00841 QSDĐ/TU ngày 30/10/2000 của UBND huyện TU cấp cho cụ Liền và một phần thửa đất số 104 chưa được cấp GCNQSDĐ do đo đạc chỉnh lý giảm theo Quyết định số 2221/QĐ-UBND ngày 19/8/2020 của UBND huyện BU. Bà B1 yêu cầu được chia bằng hiện vật, không yêu cầu phân chia tài sản trên đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Tr và người đại diện bà Nguyễn Mai Thủy Tiên làm đại diện trình bày: Thống nhất với lời trình bày của đại diện nguyên đơn về nguồn gốc đất. Ông Tr biết được di chúc có tên cụ Liền sau 20 ngày cụ Liền mất, thời điểm lập di chúc cụ Liền bị tai biến, không thể đọc, không thể viết, lập di chúc cũng không có người làm chứng nên Bản Di chúc ngày 15/3/2006 không đúng ý chí của cụ Liền. Ông Tr không tranh chấp đối với toàn bộ phần đất bà A1 và bà B1 yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông Tr không có đơn yêu cầu độc lập. Nếu được chia đất thì ông Tr cũng nhận.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T2; ông Nguyễn Hải V; ông Nguyễn Anh T3 trình bày: Toàn bộ quyền sử dụng đất và nhà ở 1 là tài sản của cụ Trạng và cụ Liền để lại. Toàn bộ nhà ở 2, nhà trọ 1, 2 và 3 và tài sản gắn liền phần đất còn lại của khu I là tài sản chung của bà A1 với ông T2 và 2 con là V và T3. Phần đất tranh chấp diện tích 1.069,7m2 đã được cụ Liền viết di chúc chia cho bà A1. Do đó, chúng tôi không đồng ý chia cho bà B1 9m ngang như ý kiến của bà A1 trình bày tại buổi làm việc ngày 07/4/2022.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Châu Nguyễn CT đồng thời là đại diện bị đơn có lời trình bày: Thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà D.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D1 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 05/5/2021 như sau: Thống nhất với lời trình của nguyên đơn và bị đơn về các đồng thừa kế của cụ Liền và cụ Trạng. Khi qua đời, 2 cụ để lại 3 phần đất, trong đó 1 phần đất bà A1 đang quản lý, 01 phần đất ông Tr đang quản lý, nhà và đất còn lại các bên đang tranh chấp. Ông D1 cho rằng di chúc có tên cụ Liền không đúng ý chí của cụ vì thời điểm lập di chúc cụ Liền bị liệt, 2 mắt không thấy rõ và cụ Liền không biết chữ; bản di chúc cũng không có người ký tên làm chứng nên ông D1 không đồng ý với nội dung di chúc. Ông D1 không biết di chúc được lập ở đâu và vào lúc nào, ông chỉ biết sau khi cụ Liền chết được 21 ngày thì bà A1 đưa cho các anh em trong gia đình xem di chúc. Ông D1 không đồng ý chia di sản theo nội dung di chúc có tên cụ Liền vì di chúc không hợp pháp. Ông D1 đề nghị chia di sản theo pháp luật. Phần di sản ông D1 được chia thì ông từ chối nhận và đồng ý chia đều di sản cho các anh em gồm bà B1, bà D, ông Tr, bà A1 và bà A2. Ông không có yêu cầu gì đối với việc giải quyết vụ án. Do ở xa nên ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị A2 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/8/2022 như sau: Bà A2 là con riêng của cụ Liền. Bà A2 biết được di chúc có tên cụ Liền sau 20 ngày cụ Liền mất, thời điểm lập di chúc cụ Liền bị tai biến, không biết chữ, không thể đọc, không thể viết, lập di chúc cũng không có người làm chứng nên Di chúc ngày 15/3/2006 không đúng ý chí của cụ Liền, không phải do cụ Liền lập. Bà A2 không đồng ý chia tài sản theo di chúc, đề nghị chia theo pháp luật, phần tài sản chia cho bà thì bà chia cho bà B1. Bà A2 không tranh chấp đối với toàn bộ phần đất bà A1 và bà B1 yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà A2 không có đơn yêu cầu độc lập.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã TM có ý kiến tại Công văn số 153/UBND-KT ngày 04/7/2022, số 166/UBND-KT ngày 19/7/2022 và số 188/UBND-NC ngày 04/8/2022 như sau: Trước ngày 31/3/2006 (không rõ ngày), UBND xã TM tiếp nhận yêu cầu của con cụ Liền là bà A1 về việc đề nghị đại diện Ủy ban cử cán bộ đến nhà của bà Liền để hỗ trợ xác thực việc lập Di chúc của bà Liền. Lý do là bà Liền già yếu gặp khó khăn trong việc đi lại. Chủ tịch UBND phân công ông Trần Văn B1 là cán bộ Tư pháp xã phối hợp với ông Vũ Văn Chính (hiện đã chết) là Trưởng Ban điều hành ấp 4 đến nhà của cụ Liền để xác thực về việc lập Di chúc của bà Liền. Theo báo cáo của ông Bình, tại thời điểm đến nhà cụ Liền ngày 31/3/2006 cho thấy: Bản Di chúc đề ngày 15/3/2006 do người nhà cụ Liền tự lập nhưng không rõ người lập; cụ Liền minh mẫn. Ông Bình đọc bản Di chúc có sẵn cho cụ Liền nghe và cụ đồng ý với nội dung di chúc. Do cụ già, yếu, không thể đi lại được, không ký tên được nên điểm chỉ vào bản di chúc. Ông Bình cầm bản Di chúc về UBND xã TM để báo cáo kết quả và trình Chủ tịch chứng thực. Do Bản Di chúc được người nhà tự lập và đánh máy sẵn đề ngày 15/3/2006 nhưng ngày chứng thực ngày 31/3/2006 nên ghi ngày 31/3/2006. Nội dung chứng thực tại trang cuối: “Bà Liền đã tự nguyện lập di chúc này. ... Người lập di chúc đã đọc lại bản di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và đã ký vào di chúc trước sự có mặt của tôi.” là câu mẫu có sẵn của văn bản chứng thực. Việc cụ Liền có biết chữ hay không thì đại diện UBND xã không rõ. Đại diện Ủy ban không có ý kiến đối với việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Công văn số 3950/UBND-NC ngày 27/10/2021 của UBND huyện BU cung cấp thông tin cho Tòa án như sau: Thửa đất số 5 và 6 cấp cho cụ Liền năm 2000 không qua đo đạc thực tế, không có hồ sơ lấy ý kiến của các chủ liền ranh. Phần đất diện tích 182m2 thuộc thửa đất số 104 được chỉnh giảm từ thửa đất số 1 do chủ liền ranh không sử dụng đất.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 của Toà án nhân dân huyê ̣n Bắc TU, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu A1 với bị đơn bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu công nhận hiệu lực Bản di chúc ngày 15/3/2006 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TM chứng thực ngày 31/3/2006; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc phân chia di sản thừa kế theo di chúc.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1 đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu A1 về việc tranh chấp thừa kế tài sản theo pháp luật.
- Tuyên Bản Di chúc ngày 15/3/2006 của Nguyễn Thị Liền, số chứng thực 06, quyển số 01 TP/CC-SCT/DCTC của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TM vô hiệu;
- Căn nhà cấp 4 gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 5 và 6 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 327635, số vào sổ 00841 QSDĐ/TU ngày 30/10/2000 của Ủy ban nhân dân huyện TU cấp cho bà Nguyễn Thị Liền và một phần thửa đất số 104 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do được đo đạc, chỉnh lý theo Quyết định số 2221/QĐ-UBND ngày 19/8/2020 của Ủy ban nhân dân huyện BU có tổng diện tích 1.543,4m2 tại xã TM, huyện BU, tỉnh Bình Dương là di sản của cụ Nguyễn Quang Trạng và cụ Nguyễn Thị Liền.
- Phân chia di sản của cụ Nguyễn Thị Liền và cụ Nguyễn Quang Trạng như sau:
a. Chia cho bà Nguyễn Thị Thu A1 quyền sử dụng đất diện tích 512,8m2 thuộc thửa đất số 5 và số 6 trong đó có 296,1m2 đất ONT bao gồm nhà ở 2 diện tích 151,2m2, 01 bồn nước, dãy nhà trọ 1 diện tích 109,2m2, dãy nhà trọ 2 diện tích 101,3m2, nhà tiền chế 1, nhà tiền chế 2 và các cây trồng gắn liền với đất được chia (có ký hiệu 2 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Bà A1 được nhận tiền chênh lệch giá trị tài sản được chia từ bà Nguyễn Thị B1 số tiền 87.903.125 (tám mươi bảy triệu chín trăm lẻ ba nghìn một trăm hai mươi lăm) đồng.
b. Chia cho bà Nguyễn Thị D quyền sử dụng đất diện tích 257,6m2 bao gồm 75,6m2 đất ONT thuộc thửa số 5 và 182m2 đất thuộc thửa số 104, nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng gắn liền với đất được chia (có ký hiệu 1 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Bà D được nhận tiền chênh lệch giá trị tài sản được chia từ bà Nguyễn Thị B1 số tiền 119.929.375 (một trăm mười chín triệu chín trăm hai mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi lăm) đồng.
c. Chia cho bà Nguyễn Thị B1 quyền sử dụng đất diện tích 440m2 thuộc thửa đất số 6 trong đó có 160m2 đất ONT bao gồm căn nhà của cụ Nguyễn Quang Trạng, cụ Nguyễn Thị Liền để lại có tổng diện tích 110m2, nhà trọ 3 diện tích 50,9m2 các cây trồng, dãy nhà trọ gắn liền với đất được chia (có ký hiệu 3 trên bản vẽ kèm theo). Bà Nguyễn Thị Thu A1, ông Nguyễn Anh T2, ông Nguyễn Hải V và ông Nguyễn Anh T3 có nghĩa vụ thực hiện việc giao đất và tài sản trên đất cho bà Nguyễn Thị B1.
Bà B1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thu A1, ông Nguyễn Anh T2, ông Nguyễn Hải V và ông Nguyễn Anh T3 giá trị các cây trồng trên đất 10.199.000 đồng; chi phí sửa nhà số tiền 29.639.000 đồng; giá trị 50,9m2 nhà trọ 109.740.400 đồng; 12,5m2 hàng rào trị giá 2.020.000 đồng. Tổng cộng 141.959.400 đồng.
Bà B1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thu A1 tiền chênh lệch giá trị tài sản được chia số tiền 87.941.875 đồng. Tổng số tiền bà B1 phải thanh toán cho bà A1 và các thành viên trong gia đình bà A1 gồm: T2, V, T3 là 229.900.275 (hai trăm hai mươi chín triệu chín trăm nghìn hai trăm bảy mươi lăm) đồng;
Bà B1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị D tiền chênh lệch giá trị tài sản được chia số tiền 32.026.250 (ba mươi hai triệu không trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi) đồng.
d. Chia cho ông Nguyễn Văn Tr quyền sử dụng đất diện tích 332,8m2 thuộc thửa đất số 6 trong đó có 160m2 đất ở và các cây trồng trên đất (có ký hiệu 1 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo). Bà Nguyễn Thị Thu A1, ông Nguyễn Anh T2, ông Nguyễn Hải V và ông Nguyễn Anh T3 có nghĩa vụ thực hiện việc giao đất và tài sản trên đất cho ông Nguyễn Văn Tr.
Ông Nguyễn Văn Tr có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị D tiền chênh lệch giá trị tài sản được chia số tiền 236.913.125 (hai trăm ba mươi sáu triệu chín trăm mười ba nghìn một trăm hai mươi lăm) đồng. Ông Tr có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thu A1, ông Nguyễn Anh T2, ông Nguyễn Hải V và ông Nguyễn Anh T3 giá trị các cây trồng trên đất số tiền 7.589.000 (bảy triệu năm trăm tám mươi chín nghìn) đồng.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/10/2022 bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o là nguyên đơn có đơn kháng cáo, nô ̣i dung cho rằng thử a đất số 5 và số 6 tờ bản đồ số 45 nguyên đơn đa đượ̃
c me ̣ là bà Liền có di chúc hợp pháp cho nguyên đơn. Do vâ ̣y, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu Toà án phúc thẩm sử a bản án sơ thẩm, chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn, không chấp nhâ ̣n yêu cầu đô ̣c lâ ̣p của bà Nguyễn Thi ̣ Binh là
̀ ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃
liên quan. Ta ̣i phiên toà, nguyên đơn và ngườ i đa ̣i diê ̣n giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thoả thuâ ̣n được vớ i nhau về viê ̣c giải quyết vu ̣ án.
Ý kiến của Kiểm sát viên đa ̣i diê ̣n Viê ̣n Kiểm sát nhân dân tinh Bỉ
nh̀ Dương: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Bản di chúc ngày 15/3/2006 gồm nhiều trang nhưng không có chữ ký hoặc điểm chỉ của cụ Liền vào từng trang, không đánh số thứ tự. Cụ Liền không biết chữ nhưng không có người làm chứng. Khi chứng thực không có mặt cụ Liền. Di chúc không hợp pháp. Án sơ thẩm chia thừa kế là có căn cứ. Tuy nhiên về cách tuyên án và số liệu có sai sót. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:
[1] Về quan hê ̣ huyết thống: Cu ̣ ông Nguyễn Quang Tra ̣ng chết năm 1977 và cu ̣ bà Nguyễn Thi ̣ Liền chết năm 2009, hai cu ̣ có 06 ngườ i con gồm:
- Bà Nguyễn Thi ̣ Ớ , chết năm 2013 (không có chồng, con).
- Bà Nguyễn Thi ̣ Binh̀
- Ông Nguyễn Văn D1
- Bà Nguyễn Thi ̣ Du ̣ng
- Ông Nguyễn Văn Tru ̣
- Bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o
Cu ̣ Liền có mô ̣t ngườ i con riêng là bà Mai Thi ̣ Á nh.
[2] Bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o (sau đây viết là nguyên đơn) khở i kiê ̣n bà Nguyễn Thi ̣ Du ̣ng (sau đây viết là bi ̣ đơn) yêu cầu được chia thừ a kế quyền sử du ̣ng đất diê ̣n tich 1.168m2 thuô ̣́
c thử a số 6, tờ bản đồ số 45 cu ̣ Liền đa đượ̃
c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất ngày 30/10/2000. Cu ̣ Liền lâ ̣p Bản di chúc ngày 15/3/2006, chứ ng thực ngày 31/3/2006 để la ̣i diê ̣n tich đấ
́t nêu trên cho nguyên đơn. Nguyên đơn yêu cầu được sử du ̣ng đất theo bản di chúc.
[3] Bi ̣ đơn khai: Về nguồn gốc đất và căn nhà là của cha me ̣ để la ̣i. Bi ̣ đơn đề nghi ̣ Toà án giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
[4] Bà Nguyễn Thi ̣ Binh là
̀ ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃
liên quan thống nhất về nguồn gốc đất diê ̣n tich 1.750m2 thuô ̣́
c thử a số 5, số 6, tờ bản đồ số 45 và căn nhà gắn liền đất là tài sản của cha me ̣ chết để la ̣i. Bà Bình cho rằng Bản di chúc ngày 15/3/2006 được lâ ̣p vào thờ i điểm cu ̣ Liền không minh mẫn nên không hợp pháp. Bà Binh yêu cầ
̀u tuyên bố Bản di chúc ngày 15/3/2006 vô hiê ̣u và chia thừ a kế nhà đất của cha me ̣ để la ̣i theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
[5] Thấy rằng: Toà án cấp sơ thẩm xác đi ̣nh phần đất diê ̣n tich 1.750m2,
́ đo đa ̣c thực tế diê ̣n tich 1.543,4m2 (691,7m2 đấ
́t ở , 851,7m2 đất trồng cây lâu năm) trong đó có 1.361,4m2 thuô ̣c thử a số 5, số 6 tờ bản đồ số 45 cu ̣ Liền đã được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất, căn nhà diê ̣n tich 110m2 gắ
́n liền đất và 182m2 đất thuô ̣c thử a 104 chưa được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất toa ̣ la ̣c ta ̣i xa Tân Mỹ
, huyê ̣̃
n Bắc TU, tinh Bỉ
̀nh Dương là di sản của cụ Tra ̣ng, cu ̣ Liền chết để la ̣i là có căn cứ .
[6] Xét Bản di chúc ngày 15/3/2006 có chứ ng thực của UBND xa Tân Mỹ
̃ ngày 31/3/2006, thấy rằng: Bản di chúc không do cu ̣ Liền soa ̣n thảo. Cu ̣ Liền sinh năm 1921, ta ̣i thờ i điểm lâ ̣p Bản di chúc ngày 15/3/2006 thi cu ̣̀ Liền đa 85̃ tuổi. Bản di chúc được lâ ̣p ngày 15/3/2006 nhưng đến ngày 31/3/2006 mớ i được đưa lên UBND xa Tân Mỹ
chữ
́ ng thực, ta ̣i thờ i điểm chứ ng thực cu ̣ Liền không có mă ̣t nhưng UBND xa Tân Mỹ
la ̣̃ i chứ ng thực cu ̣ Liền có đầy đủ năng lực hành vi dân sự… ngườ i lâ ̣p di chúc đa đo ̣̃ c la ̣i bản di chúc, đa đỗ ̀ng ý toàn bô ̣ nô ̣i dung ghi trong di chúc, đa kỹ ́ vào bản di chúc trướ c mă ̣t của tôi. Bản di chúc gồ m nhiều trang nhưng không được đánh số thứ tự mỗi trang và cũng không có chữ ký hoă ̣c điểm chi củ ̉a cu ̣ Liền ở mỗi trang. Theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 653 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2005 về nô ̣i dung của di chúc bằng văn bản, quy đi ̣nh: “… di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc”. Khoản 1 Điều 658 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2005 về thủ tu ̣c lâ ̣p di chúc ta ̣i cơ quan công chứ ng hoă ̣c UBND xa, phưỡ
̀ ng, thi ̣ trấn, quy đi ̣nh: “Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây: Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chú c”. Tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện cũng xác định cụ Liền không biết chữ. Như vâ ̣y, Bản di chúc ngày 15/3/2006 có chứ ng thực của UBND xa Tân Mỹ
ngã
̀y 31/3/2006 là không phù hợp pháp luâ ̣t. Toà án cấp sơ thẩm xác đi ̣nh Bản di chúc không hợp pháp là có căn cứ .
[7] Toà án cấp sơ thẩm chia thừ a kế theo toàn bô ̣ diê ̣n tich đất 1.543,4m2
́ và căn nhà diê ̣n tich 110m2 gắ
́n liền đất là di sản của cu ̣ Tra ̣ng và cu ̣ Liền để lại theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t: Chia cho bà Du ̣ng 257,6m2 đất, ông Tru ̣ 332,8m2 đất, bà Binh 440,2m2 đất, bà Ả o 512,8m2 đất (nhiều hơn các đồng thừ a kế khác)
̀ là có xem xét đến công sứ c gin giữ, tôn ta ̣o đất của bà Ả o; có căn cứ và đúng
̀ pháp luâ ̣t (kỷ phần của ông D1 tự nguyện để lại cho các thừa kế; kỷ phần của bà A2 tự nguyện để lại cho bà B1). Tuy nhiên, về phần giải quyết giá trị tài sản trên đất và giá trị tài sản chênh lệch, Toà án cấp sơ thẩm có sai sót trong việc tính toán số tiền các đương sự phải thanh toán và cách tuyên án chưa phù hợp. Do vâ ̣y, cần sử a một phần bản án sơ thẩm. Kháng cáo của bà Ả o là có cơ sở chấp nhâ ̣n mô ̣t phần. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp. Á n phi sơ thẩm: Miễn án
́ phi cho bà Du ̣ng, ông Tru ̣, bà Binh do là ngườ i cao tuổi và có đơn xin miễn án
́
̀ phi. Giảm án phi cho bà Ả o có đơn xin giảm án phi do hoàn cảnh gia đình khó
́
́
́ khăn được UBND xã Tân My xã ́c nhâ ̣n. Á n phi phúc thẩm: Bà Ả o không phải
́ chi ̣u. Chi phi xem xét, thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ, đo đa ̣c và đi ̣nh giá tài sản: Các đương
́ sự phải nô ̣p theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều: 653, 658, 674, 675, 676, 685 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2005;
- Căn cứ các Điều: 147; 148; 157 165, khoản 2, Điều 308; Điều 309 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự;
- Căn cứ các Điều: 12, 14, 15, 26, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,
Tuyên xử:
Chấp nhâ ̣n mô ̣t phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o. Sử a một phần Bản án số 26/2022/DS-ST ngày 30/9/2022 của Toà án nhân dân huyê ̣n Bắc TU như sau:
1. Không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o đối vớ i bà Nguyễn Thi ̣ Du ̣ng về viê ̣c tranh chấp thừ a kế tài sản (yêu cầu chia thừ a kế tài sản theo Bản di chúc ngày 15/3/2006 của cu ̣ Nguyễn Thi ̣ Liền có chứ ng thực ngày 31/3/2006 của UBND xa Tân Mỹ
̃).
2. Chấp nhâ ̣n yêu cầu đô ̣c lâ ̣p của bà Nguyễn Thi ̣ Bình đối vớ i bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o về viêc tranh chậ
́p thừ a kế tài sản. Tuyên bố Bản di chúc ngày 15/3/2006 của cu ̣ Nguyễn Thi ̣ Liền có chứ ng thực ngày 31/3/2006 của UBND xã Tân My lã ̀ không hợp pháp. Chia thừ a kế tài sản của cu ̣ ông Nguyễn Quang Tra ̣ng và cu ̣ bà Nguyễn Thi ̣ Liền như sau:
- Chia cho bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o đươc quyền sự
̉ du ̣ng diê ̣n tich đất
́ 512,8m2 thuô ̣c thử a đất số 5, 6 tờ bản đồ số 45 trong đó có 296,1m2 đất ở và sở hữu toàn bô ̣ tài sản gắn liền đất: Nhà ở , nhà tro ̣, cây trồng… toa ̣ lạc ta ̣i xa Tâñ My, huyê ̣̃
n Bắc TU, tỉnh Binh Dương (kỳ
́ hiê ̣u số 2 trên sơ đồ kèm theo bản án).
- Chia cho bà Nguyễn Thi ̣ Bình được quyền sử du ̣ng diê ̣n tich đấ
́t 440,2m2 thuô ̣c thử a đất số 6 tờ bản đồ số 45 trong đó có 160m2 đất ở và sở hữu toàn bô ̣ tài sản gắn liền đất: căn nhà diê ̣n tich 110m2, nhá
̀ tro ̣, cây trồng… toa ̣ la ̣c ta ̣i xã Tân My, huyê ̣̃
n Bắc TU, tinh Bỉ
̀nh Dương (ký hiê ̣u số 3 trên sơ đồ kèm theo bản án).
- Chia cho ông Nguyễn Văn Tru ̣ được quyền sử du ̣ng diê ̣n tich đấ
́t 332,8m2 thuô ̣c thử a đất số 6 tờ bản đồ số 45 trong đó có 160m2 đất ở và sở hữu toàn bô ̣ tài sản gắn liền đất: cây trồng… toa ̣ la ̣c ta ̣i xa Tân Mỹ
, huyện Bẵ
́c TU, tinh Bỉ
nh Dương (kỳ
́ hiê ̣u số 4 trên sơ đồ kèm theo bản án).
- Chia cho bà Nguyễn Thi ̣ Du ̣ng được quyền sử du ̣ng diê ̣n tich đấ
́t 257,6m2 thuô ̣c thử a đất số 5 tờ bản đồ số 45 trong đó có 75,6m2 đất ở , 182m2 đất thuô ̣c thử a số 104; bà Du ̣ng được sở hữu toàn bô ̣ tài sản gắn liền đất: nhà ở , công trinh xây dự̀
ng, cây trồng… toa ̣ la ̣c ta ̣i xa Tân Mỹ
, huyê ̣̃
n Bắc TU, tỉnh Binh Dương (kỳ
́ hiê ̣u số 1 trên sơ đồ kèm theo bản án).
- Buô ̣c bà Nguyễn Thi ̣ Bình có nghia vu ̣̃
thanh toán cho: Bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o, ông Nguyễn Anh Tú, ông Nguyễn Hải V, ông Nguyễn Anh Tuấn 239.501.525 đồng (khoản tiền chê ̣nh lê ̣ch giá tri ̣ tài sản và giá tri ̣ tài sản của bà Ả o, ông Tú, ông V, ông Tuấn trên phần đất bà Binh được chia).
̀
- Buô ̣c bà Nguyễn Thi ̣ Bình có nghia vu ̣̃
thanh toán cho bà Nguyễn Thi ̣ Du ̣ng 151.955.625 đồng (khoản tiền chênh lê ̣ch giá tri ̣ tài sản).
- Buô ̣c ông Nguyễn Văn Tru ̣ có nghia vu ̣̃
thanh toán cho bà Nguyễn Thi ̣ Du ̣ng 236.901.875 đồng (khoản tiền chênh lê ̣ch giá tri ̣ tài sản).
- Buô ̣c ông Nguyễn Văn Tru ̣ có nghia vu ̣̃
thanh toán cho bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o, ông Nguyễn Anh Tú, ông Nguyễn Hải V, ông Nguyễn Anh Tuấn 7.589.000 đồng (giá tri ̣ cây trồng của bà Ả o, ông Tú, ông V, ông Tuấn trên phần đất ông Tru ̣ được chia).
Các đương sự được chia thừ a kế quyền sử du ̣ng đất, sở hữu tài sản có trách nhiê ̣m đăng ký theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t. Kiến nghị UBND huyện BU thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00841 QSDĐ/TU do UBND huyện TU cấp ngày 30/10/2000 cho bà Nguyễn Thị Liền, để cấp cho các đương sự theo quy định pháp luật.
3. Á n phi, chi phi xem xét, thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ, đo đa ̣c và đi ̣nh giá tài sản:
́
́
- Á n phi sơ thẩm: Miễn án phi cho bà Nguyễn Thi ̣ Du ̣ng, bà Nguyễn Thi ̣
́
́
Binh, ông Nguyễn Văn Tru ̣. Bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o phải chi ̣u 45.000.000 đồng ̀ được khấu trừ 5.000.000 đồng ta ̣m ứ ng đa nô ̣̃ p theo Biên lai thu ta ̣m ứ ng án phí, lê ̣ phi Toá
̀ án số 0054601 ngày 11/12/2020 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n Bắc TU. Bà Ả o còn phải nô ̣p tiếp 40.000.000 đồng.
- Á n phi phúc thẩm: Bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o không phải chi ̣u. Chi cu ̣c Thi
́ hành án dân sự huyê ̣n Bắc TU hoàn la ̣i cho bà Ả o 300.000 đồng theo Biên lai thu ta ̣m ứ ng án phi, lê ̣́ phi Toá
̀ án số 0010106 ngày 11/10/2022.
- Chi phi xem xét, thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ, đo đa ̣c và đi ̣nh giá tài sản là
́ 8.000.000 đồng (bà Ả o đa ta ̣̃ m ứ ng 5.000.000 đồng, bà Binh đa ta ̣̃ m ứ ng
̀ 3.000.000 đồng). Bà Nguyễn Thi ̣ Thu Ả o, bà Nguyễn Thi ̣ Binh, ông Nguyễn
̀ Văn Tru ̣, bà Nguyễn Thi ̣ Du ̣ng mỗi ngườ i phải chi ̣u 2.000.000 đồng. Bà Du ̣ng nô ̣p 2.000.000 đồng, ông Tru ̣ nô ̣p 1.000.000 đồng để hoàn trả la ̣i cho bà Ảo. Ông Tru ̣ nô ̣p 1.000.000 để hoàn trả la ̣i cho bà Binh.̀
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Bình Dương; - TAND huyện BU; - Chi cục THADS huyện BU; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Trung |