- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA Bản án số: 111/2022/HSST |
Ngày: 07 - 9 - 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Việt
2. Ông Hà Văn Sơ
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thảo Nguyên- Thư ký Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương- Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 115/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Vì Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Xinh mun; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Vì Văn X sinh năm 1923 và bà Vì Thị X sinh năm 1939. Bị cáo có vợ là Vì Thị B sinh năm 1987. Bị cáo có 01 con sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vì Thị , sinh năm 1987. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Bá Linh – Luật sư cộng tác viên của Trung T Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 09/5/2022, Vì Văn T đang ngồi tại vườn cây thì có một người đàn ông hỏi T mua hồng phiến để bán kiếm lời, T đồng ý và lấy 1.000.000 VNĐ trong túi quần ra mua được 01 hộp nhựa hình trụ tròn nói bên trong có 18 viên hồng phiến gói thành 06 gói, mỗi gói chứa 03 viên và nợ lại 02 viên hẹn mấy hôm sau trả. T mang về nhà kiểm tra thấy có 06 gói (do T bị mù nên không biết bên trong mỗi gói có 02 viên và các mảnh hồng phiến). T lấy 01 gói cất giấu giữa 02 tấm đệm trong tủ của gia đình còn 05 gói T bỏ lại vào hộp rồi cho vào túi quần phía trước bên trái đang mặc. Khoảng 09 giờ cùng ngày T nhờ anh trai tên Vì Văn X đưa đi mua thức ăn, đến khu vực bản C, xã B thì bị Tổ công tác công an xã B, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma túy trên. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vì Văn T. Kết quả khám xét phát hiện thu giữ 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 02 viên nén màu hồng và các mảnh viên nén màu hồng mục đích bị cáo mua về bán kiếm lời.
Kết luận giám định số 844/KL-KTHS ngày 16/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận số vật chứng là 10 viên nén màu hồng và các mảnh viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét Vì Văn T là Methamphetamine có khối lượng 1,81 gam.
Kết luận giám định số 894/KL-KTHS ngày 25/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số: 88/CT-VKSMS ngày 17/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Vì Văn T tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với
các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vì Văn T từ 30 đến 36 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 1,17 gam Methamphetamine, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, hộp nhựa, các mảnh nilon màu hồng được chứa trong 01 phong bì thư do Công an huyện Mai Sơn phát hành; Vỏ phong bì cũ gửi giám định được chứa trong 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành.
Trả lại cho Vì Văn T 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu vàng trắng, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng; Số tiền 720.000 VNĐ.
Trả lại cho chị Vì Thị B 01 xe mô tô, loại xe thồ tự chế, màu đen, không có yếm, không gương chiếu hậu, không có biển kiểm soát, bị hư hỏng nhiều chỗ, số khung RMSWCHRHOAH 033684, số máy 000996, xe cũ đã qua sử dụng.
Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với đề nghị trả lại chiếc xe mô tô và số tiền bị thu giữ.
Quan điểm của người bào chữa đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thể hiện rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, ngoài ra bị cáo còn là người khuyết tật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo Vì Văn T, hình phạt cụ thể là 30 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án: Xét thấy việc khởi tố, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về đường lối giải quyết vụ án:
Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La lập vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 09/5/2022 đối với bị cáo Vì Văn T thu giữ 1,81 gam Methamphetamine mục đích T tàng trữ mục đích để bán kiếm lời. Tại bản kết luận giám định số 844/KLMT ngày 16/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2 đều là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của các mẫu gửi giám định là M1=0,32 gam; M2=0,32 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,81 gam; Loại Methamphetamine”.
Bị cáo Vì Văn T tại phiên tòa thừa nhận đã mua 1,81 gam Methamphetamine của một người đàn ông không quen biết để bán kiếm lời. Lời khai của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vì Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điểm 251 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.
[3] Xét tính chất vụ án:
Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường nhưng bị cáo T vẫn mua ma túy với mục đích bán kiếm lời là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Về đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị hình phạt và xử lý vật chứng là đảm bảo đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Xét quan điểm bào chữa của luật sư đối với bị cáo là đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đúng với các tình tiết trong vụ án, mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo là tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ. Cần chấp nhận.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: không có.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo còn là người khuyết tật nên cần áp dụng điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án, bị cáo Vì Văn T khai mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại vườn cây gần nhà T thuộc bản A, xã B, huyện Mai Sơn. Việc mua bán trao đổi giữa hai bên không có người biết, chứng kiến nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, mở rộng vụ án. Buộc bị cáo Vì Văn T phải chịu trách nhiệm độc lập về toàn bộ khối lượng Methamphetamine thu giữ là 1,81 gam.
[7] Vật chứng vụ án:
Đối với 1,17 gam Methamphetamine còn lại sau giám định, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, hộp nhựa, các mảnh nilon màu hồng được chứa trong 01 phong bì thư do Công an huyện Mai Sơn phát hành; Vỏ phong bì cũ gửi giám định được chứa trong 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành. Xét là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu vàng trắng, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng và số tiền 720.000 VNĐ là tài sản của Vì Văn T không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô, loại xe thồ tự chế, màu đen, không có yếm, không gương chiếu hậu, không có biển kiểm soát, bị hư hỏng nhiều chỗ, số khung RMSWCHRHOAH 033684, số máy 000996, xe cũ đã qua sử dụng là tài sản chung vợ chồng bị cáo, khi bị cáo sử dụng xe để vận chuyển ma túy vợ bị cáo - chị Vì Thị không biết, cần trả lại cho chị Vì Thị B quản lý, sử dụng tài sản.
[8] Án phí: Xét bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và là người khuyết tật.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a, c, e khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Miễn toàn bộ án phí hình sự, dân sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn T.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vì Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 1,17 gam Methamphetamine, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, hộp nhựa, các mảnh nilon màu hồng được chứa trong 01 phong bì thư do Công an huyện Mai Sơn phát hành; Vỏ phong bì cũ gửi giám định được chứa trong 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành.
Trả lại cho Vì Văn T 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu vàng trắng, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng; số tiền 720.000VNĐ.
Trả lại cho chị Vì Thị B 01 xe mô tô, loại xe thồ tự chế, màu đen, không có yếm, không gương chiếu hậu, không có biển kiểm soát, bị hư hỏng nhiều chỗ, số khung RMSWCHRHOAH 033684, số máy 000996, xe cũ đã qua sử dụng.
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn T.
Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mai Sơn; - Công an huyện Mai Sơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Bị cáo; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tráng A Tếnh |