vanban.org

Bản án 111/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 21/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về căn cứ áp dụng pháp luật:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Về căn cứ áp dụng pháp luật:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2022/HS-ST
Ngày 21 – 9 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bá Quyền

2. Ông Nguyễn Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và Điểm cầu thành phần: Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2022/TLST-HS, ngày 05 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2022/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1985, tại: Thái Nguyên.

Nơi cư trú: Xóm NV 5, xã VP, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Nguyễn Văn T (Đã chết); con bà: Nguyễn Thị T; Có vợ là Lưu Quỳnh T; Vợ chồng có 03 con chung (Con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2014).

- Tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 13/6/2022, đến ngày 22/6/2022 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).

- Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Tổ dân phố TT, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Tất T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ dân phố AL, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 20 phút ngày 13/6/2022, Tổ công tác của công an phường TT, thành phố Phổ Yên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện đối tượng Nguyễn Văn T có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi thấy tổ công tác, T bỏ chạy được khoảng 10 mét thì bị tổ công tác truy đuổi, bắt giữ. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Văn T đã tự nguyện giao nộp từ trong tay phải của T 02 (Hai) túi nilon màu trong suốt cho tổ công tác, bên trong mỗi túi đều chứa chất rắn màu trắng đục. T khai là ma túy, loại Heroine của T vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng thu giữ mà T giao nộp và đưa Nguyễn Văn T cùng hồ sơ, tài liệu đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng toàn bộ số chất rắn màu trắng đục thu giữ của Nguyễn Văn T, được 0,142 gam, cho toàn bộ số chất rắn màu trắng đục vào phong bì ký hiệu C gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 866/KL-KTHS ngày 22/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất rắn màu trắng đục trong phong bì ký hiệu C gửi giám định là chất ma tuý; loại Heroine; khối lượng là: 0,142 gam

Tại Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 13/6/2022, T đi nhờ xe của người đi đường từ khu vực chợ C, xã VP, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, T xuống xe rồi đi bộ đến trước cửa một ngôi nhà có cửa sắt đóng kín, nằm bên phải đường hành lang Quốc lộ 3 theo hướng Hà Nội đi Thái Nguyên. Sau đó T cầm số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đưa qua lỗ nhỏ sát nền bê tông trước cửa vào trong ngôi nhà thì có người cầm tiền rồi đưa ra cho T 02 (Hai) gói ma túy loại Heroine. Sau khi mua được ma túy, T cầm ma túy trong tay phải chuẩn bị ra về thì bị tổ công tác của Công an xã TT, thành phố Phổ Yên phát hiện, do lo sợ nên T đã cầm ma túy bỏ chạy nhưng sau đó bị bắt giữ, kiểm tra. Quá trình kiểm tra T đã tự nguyện giao nộp từ trong tay phải 02 gói ma túy vừa mua được cho lực lượng Công an. Mục đích T mua ma túy là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu C, bên trong chứa 0,138 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao mẫu C; 01 (một) phong bì màu trắng niêm phong ký hiệu D, bên trong chứa vỏ bao mẫu lưu kho được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số: 104/CT-VKSPY ngày 03/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số: 104/CT-VKSPY ngày 03/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2022.

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu C ghi hoàn trả 0,138 gam mẫu C còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C; 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu D ghi vỏ bao mẫu lưu kho.

Ngoài ra, còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- Người chứng kiến Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Tất Thắng trình bày: Vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 13/6/2022 Nguyễn Mạnh C và Nguyễn Tất T được cơ quan Công an phường TT, thành phố Phổ Yên mời đến Tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên đoạn gần đường bờ tường khu công nghiệp TT sát với đường Quốc lộ 3 để chứng kiến việc cơ quan Công an kiểm tra đối với một người đàn ông. Quá trình kiểm tra người đàn ông này khai nhận tên là Nguyễn Văn T; sinh năm 1985; Trú tại xóm NV 5, xã VP, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và Toàn có tự nguyện giao nộp từ trong lòng bàn tay phải 02 (Hai) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục, theo Toàn khai là ma túy loại Heroine, Toàn mua về để sử dụng cho bản thân cho tổ công tác. Sau đó tổ công tác của công an xã TT đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định đồng thời đưa Nguyễn Văn T về cơ quan công an để giải quyết.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đề nghị áp dụng.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng … và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bản thân là người nghiện ma túy nên hồi 16 giờ 20 phút ngày 13/6/2022, tại khu vực tổ dân phố Kim Tỉnh, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,142 gam ma túy loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do đó, Bản cáo trạng số: 104/CT-VKSPY, ngày 03/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện nên đã sớm mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.

. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

- Về nhân thân: Qua phân tích các yêu cấu tố về nhân thân người phạm tội, Hội đồng xét xử thấy: Nguyễn Văn T sinh ra và lớn lên tại Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 4/12, sau đó nghỉ học ở nhà, lao động tự do tại địa phương. Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định bị cáo là người có nhân thân tốt.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc loại tội nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương và làm phát sinh thêm các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, bởi: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, sau khi đánh giá, phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt so với mức đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về làm công dân có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định:

“…5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản…”

Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

. Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu C ghi hoàn trả 0,138 gam mẫu C còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C; 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu D ghi vỏ bao mẫu lưu kho – Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Về các vấn đề khác của vụ án: Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T, theo T khai mua tại một ngôi nhà có cửa sắt đóng kín nằm bên phải đường Quốc lộ 3 theo hướng Hà Nội đi Thái Nguyên thuộc tổ dân phố KT, phường TT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Khi mua ma túy T không biết ngôi nhà này là của ai, khi mua không nhìn thấy người bán ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ áp dụng pháp luật:

Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Áp dụng Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

3. Về hình phạt:

3.1 Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2022.

3.2 Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T.

- Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu C ghi hoàn trả 0,138 gam mẫu C còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu C; 01 (một) phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu D ghi vỏ bao mẫu lưu kho.

Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 05/8/2022.

5. Về Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:

Cỡ chữ