vanban.org

Bản án 111/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo L V T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: L V T 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L V T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T D
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:111/2022/HS-ST
Ngày 25-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D- TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Ngọc và bà Lô Thị Hướng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Nhà tạm giữ Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: L V T. Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 26 tháng 12 năm 1983. Tại huyện T D, tỉnh Nghệ An.

Nơi ĐKHKTT: Bản S, xã T, huyện T D, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Bản C, xã T, huyện T D, tỉnh Nghệ An;Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: L V T và bà Vi Thị L. Vợ: Vang Thị N; con: 02 con;Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2022 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

-Người làm chứng:

+ Anh Lô Văn T, sinh năm 1999 (Vắng mặt không có lý do)

Địa chỉ: Bản CT, xã T, huyện T D, tỉnh Nghệ An.

+ Anh L D T P, sinh năm 2005 (Vắng mặt không có lý do)

Địa chỉ: Bản C, xã T, huyện T D, tỉnh Nghệ An.

-Người đại diện hợp pháp của anh L D T P: Chị Lô Thị S, sinh năm 1986 (Vắng mặt không có lý do)

Địa chỉ: Bản C, xã T, huyện T D, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 28/5/2022, khi L V T đang ở nhà thì có Lô Văn T (sinh năm 1999, trú tại bản CT, xã T, huyện T D) gọi điện đến số điện thoại 0377819525 của L V T nói: “Bác May ơi, bác về chưa?”, T trả lời: “Bác về lâu rồi.”, Lô Văn T nói tiếp: “Bán cho bọn cháu một gói Heroine.”, T nói: “Xuống đồi Na Tổng bác đưa hàng cho”. Sau đó, L V T điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C2, màu xanh, biển kiểm soát 37TA-002.04 đi đến khu vực đồi thuộc bản Na Tổng thì thấy Lô Văn T và L D T P (sinh năm 2005, trú tại bản C, xã T, huyện T D). Gặp T thì L D T P nói với Lô Văn T: “Góp mỗi thằng năm mươi nghìn.”. Sau đó, Tuấn đưa cho Phi số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), Phi cũng lấy ra số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) góp lại được tổng 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đưa cho L V T (quá trình Lô Văn T và P trao đổi góp tiền thì T nghe và nhìn thấy). T cầm lấy tiền P đưa rồi lấy từ trong túi áo ngực ra 01 (một) gói Heroine được gói từ ngoài vào trong là lớp bao potylen màu đen đến lớp giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long đưa cho P, P cầm lấy gói Heroine rồi cùng Lô Văn T đi đến khu vực nghĩa địa bản L, xã T, huyện T D sử dụng hết rồi đi về nhà. Trên đường về đến bản CT xã T, huyện T D thì Lô Văn T và P bị tổ công tác Công an huyện T D kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi quần bên phải của Tuấn đang mặc 01 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 mảnh bao potylen màu đen và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng. Tuấn và Phi khai nhận mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long và mảnh bao potylen màu đen đều là vỏ gói ma túy Heroine mà Tuấn và Phi mua của L V T, còn bơm kim tiêm là dụng cụ để sử dụng ma túy của Tuấn và Phi.

Trên cơ sở lời khai của Lô Văn Tuấn, L D T P và các tài liệu khác thu thập được, ngày 29/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T D thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của L V T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình thi hành lệnh, Cơ quan điều tra đã thu giữ của T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, số loại 1280, màu xanh, bên trong có gắn thẻ sim số thuê bao 0377819525. L V T khai nhận chiếc điện thoại đó dùng để liên lạc mua bán ma túy với Tuấn và Phi.

Tại bản kết luận giám định số: 803/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 10/6/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Trên mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long và trong bơm kim tiêm dài khoảng 10 cm thu giữ của Lô Văn T và L D T P gửi tới giám định đều có bám dính chất ma túy, đều thuộc loại Heroine; Trên mảnh bao potylen màu đen thi giữ của Lô Văn T và L D T P gửi tới giám định không tìm thấy chất ma túy.

Bản cáo trạng số 118/CT-VKS-TD ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố L V T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 điều 251; điểms khoản 1Điều 51Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo: L V T mức án từ07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo theo đúng quy định của pháp luật;

Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo L V T đồng ý với quan điểm truy tố của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt chobị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công An huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội củabị cáo phù hợp lời khai của ngườilàm chứng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 17 giờ 40 ngày 28/5/2022, tại khu vực đồi thuộc bản N, xã T, huyện T D, tỉnh Nghệ An, L V T đã có hành vi bán trái phép 01 (một) gói Heroine cho Lô Văn T và L D T P thu lợi bất chính số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Như vậy hành vi của L V T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Chính vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố bị cáo L V T theo tội danh và Điều luật viện dẫn ở trên là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đây là vụ án rất nghiêm trọng bởi hành vi phạm tội củabị cáo phạm vào khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự, điều luật có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự lẽ ra cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo, song xét thấybị cáocó hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, không có tài sản được tạo lập từ hành vi phạm tội, khó có khả năng thi hành nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với Lương Văn V là người bán ma túy cho L V T. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện tại Vông không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra xác minh sau.

Đối với người đàn ông lái xe lai chở L V T đến bản Đ, xã LM, huyện T D, tỉnh Nghệ An, do T không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với Lô Văn T và L D T P là người đã mua ma tuý của T để sử dụng. Do hành vi này của T và P không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã giao cho chính quyền địa phương xử lý.

Đối với Vi Văn H là người cho L V T mượn xe để đi mua ma túy. Nhưng anh H không biết việc T sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội nên không cấu thành tội phạm.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 mảnh bao potylen màu đen và 01 bơm kim tiêm dài khoảng 10 cm đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số loại 1280, màu xanh, bên trong có gắn thẻ sim số thuê bao 0377819525 bị cáo dùng để phạm tội nên cần tịch thu bán đấu giá, sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại, tịch thu tiêu hủy thẻ sim số thuê bao 0377819525.

- Đối với số tiền 100.000 đồng L V T bán ma túy mà có cần truy thu, sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo L V T là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm chobị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 2Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo L V T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: L V T 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2022.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 mảnh bao potylen màu đen và 01 bơm kim tiêm dài khoảng 10 cm đã qua sử dụng, 01 thẻ sim số thuê bao 0377819525. Tịch thu, bán đấu giá, sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số loại 1280, màu xanh. Truy thu, sung công quỹ nhà nước số tiền 100.000 (Một trăm nghìn) đồng. (Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/10/2022 giữa cơ quan Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An).

-Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L V T.

Các bị cáocó quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 25/10/2022

Cỡ chữ